Giáo trình thị trường chứng khoán phần 1 pgs ts đinh văn sơn pgs ts nguyễn thị phương liên

Giáo trình thị trường chứng khoán phần 1 của PGS TS Đinh Văn Sơn và PGS TS Nguyễn Thị Phương Liên cung cấp kiến thức cơ bản và chuyên sâu về đầu tư.

Trường đại học

Trường Đại Học Thương Mại

Chuyên ngành

Tài Chính - Ngân Hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo Trình

2009

126
127
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI NÓI ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ CÁC CHỦ THỂ THAM GIA TTCK

1.1.1. Cơ sở hình thành TTCK

2. CHƯƠNG 2: CHỨNG KHOÁN

3. CHƯƠNG 3: HOẠT ĐỘNG GIAO DỊCH TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

4. CHƯƠNG 4: HỆ THỐNG LƯU KÍ, THANH TOÁN BÙ TRỪ VÀ THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

5. CHƯƠNG 5: PHÂN TÍCH ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN

6. CHƯƠNG 6: QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

Tóm tắt

I. Tổng quan về giáo trình thị trường chứng khoán PGS TS Đinh Văn Sơn

Giáo trình thị trường chứng khoán do PGS TS Đinh Văn Sơn và PGS TS Nguyễn Thị Phương Liên biên soạn là tài liệu quan trọng cho sinh viên ngành tài chính. Nội dung giáo trình cung cấp kiến thức cơ bản về thị trường chứng khoán, các loại chứng khoán, và vai trò của chúng trong nền kinh tế. Giáo trình được chia thành 6 chương, mỗi chương tập trung vào một khía cạnh khác nhau của thị trường chứng khoán.

1.1. Nội dung chính của giáo trình thị trường chứng khoán

Giáo trình bao gồm 6 chương, từ khái niệm cơ bản về thị trường chứng khoán đến phân tích đầu tư. Mỗi chương được thiết kế để giúp sinh viên hiểu rõ hơn về các khía cạnh khác nhau của thị trường tài chính.

1.2. Đối tượng sử dụng giáo trình thị trường chứng khoán

Giáo trình này không chỉ dành cho sinh viên mà còn là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu và những người làm việc trong lĩnh vực tài chính, đặc biệt là những ai quan tâm đến đầu tư chứng khoán.

II. Những thách thức trong việc học về thị trường chứng khoán

Việc học về thị trường chứng khoán không chỉ đơn thuần là tiếp thu kiến thức lý thuyết mà còn phải đối mặt với nhiều thách thức thực tiễn. Các sinh viên thường gặp khó khăn trong việc áp dụng lý thuyết vào thực tế giao dịch. Ngoài ra, sự biến động của thị trường cũng tạo ra áp lực lớn cho những người mới bắt đầu.

2.1. Khó khăn trong việc áp dụng lý thuyết vào thực tiễn

Nhiều sinh viên gặp khó khăn trong việc chuyển đổi kiến thức lý thuyết thành kỹ năng thực hành. Việc này đòi hỏi thời gian và sự kiên nhẫn để nắm vững các khái niệm như phân tích kỹ thuật và phân tích cơ bản.

2.2. Ảnh hưởng của biến động thị trường đến việc học

Sự biến động của thị trường chứng khoán có thể gây ra sự lo lắng cho sinh viên. Họ cần học cách quản lý cảm xúc và rủi ro khi tham gia vào các giao dịch thực tế.

III. Phương pháp học hiệu quả về thị trường chứng khoán

Để học tốt về thị trường chứng khoán, sinh viên cần áp dụng các phương pháp học tập hiệu quả. Việc kết hợp lý thuyết với thực hành sẽ giúp sinh viên nắm vững kiến thức và kỹ năng cần thiết. Các phương pháp như tham gia các khóa học trực tuyến, đọc sách chuyên ngành, và thực hành giao dịch trên các nền tảng mô phỏng là rất hữu ích.

3.1. Kết hợp lý thuyết và thực hành

Việc tham gia vào các khóa học thực hành sẽ giúp sinh viên áp dụng kiến thức lý thuyết vào thực tế. Các lớp học mô phỏng giao dịch chứng khoán là một ví dụ điển hình.

3.2. Sử dụng tài liệu tham khảo bổ sung

Ngoài giáo trình, sinh viên nên tìm hiểu thêm qua các tài liệu tham khảo khác như sách, bài báo và các nghiên cứu trường hợp để mở rộng kiến thức về thị trường chứng khoán.

IV. Ứng dụng thực tiễn của giáo trình thị trường chứng khoán

Giáo trình thị trường chứng khoán không chỉ cung cấp kiến thức lý thuyết mà còn giúp sinh viên hiểu rõ hơn về các ứng dụng thực tiễn trong lĩnh vực tài chính. Các khái niệm như phân tích kỹ thuậtphân tích cơ bản được áp dụng trong việc ra quyết định đầu tư.

4.1. Phân tích kỹ thuật trong đầu tư chứng khoán

Phân tích kỹ thuật là một trong những công cụ quan trọng giúp nhà đầu tư dự đoán xu hướng giá của chứng khoán. Việc hiểu rõ các chỉ số và biểu đồ sẽ giúp sinh viên đưa ra quyết định đầu tư chính xác hơn.

4.2. Phân tích cơ bản và giá trị của chứng khoán

Phân tích cơ bản giúp nhà đầu tư đánh giá giá trị thực của một công ty thông qua các chỉ số tài chính. Điều này rất quan trọng trong việc xác định thời điểm mua hoặc bán chứng khoán.

V. Kết luận và tương lai của thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán đang ngày càng phát triển và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Giáo trình thị trường chứng khoán của PGS TS Đinh Văn Sơn và PGS TS Nguyễn Thị Phương Liên sẽ tiếp tục là tài liệu quý giá cho các thế hệ sinh viên. Tương lai của thị trường chứng khoán hứa hẹn sẽ có nhiều cơ hội và thách thức mới.

5.1. Tầm quan trọng của thị trường chứng khoán trong nền kinh tế

Thị trường chứng khoán không chỉ là nơi giao dịch chứng khoán mà còn là kênh huy động vốn quan trọng cho các doanh nghiệp. Điều này giúp thúc đẩy sự phát triển kinh tế.

5.2. Dự báo xu hướng phát triển của thị trường chứng khoán

Với sự phát triển của công nghệ và các nền tảng giao dịch trực tuyến, thị trường chứng khoán sẽ ngày càng trở nên dễ tiếp cận hơn cho các nhà đầu tư. Điều này mở ra nhiều cơ hội cho những ai muốn tham gia vào lĩnh vực này.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

16/08/2025
Giáo trình thị trường chứng khoán phần 1 pgs ts đinh văn sơn pgs ts nguyễn thị phương liên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐÈ cơ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ CÁC CHỦ THỂ THAM GIA TTCK 1. Cơ sở hình thành TTCK Lịch sử đã chứng minh rằng: sự ra đời, tồn tại và phát triển TTCK là sản phẩm tất yếu khách quan của nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường. Nhìn chung, sự ra đời của TTCK ở các quốc gia đều bắt nguồn từ hai nguyên nhân chủ yếu sau: Thứ nhất, giải quyết mối quan hệ giữa cung và cầu vốn tiền tệ Đây là nguyên nhân mang tính tiền đề cho sự xuất hiện TTCK.

Thực tế cho thấy, các chủ thể trong nền kinh tế - xã hội, trước hết là Nhà hước và các doanh nghiệp, vì những lý do khác nhau mà thường có nhu cầu huy động vốn để bổ sung thiếu hụt ngân sách của mình. Cầu vốn là lượng vốn cần thiết để tiến hành quá trình đầu tư, xây dựng, sản xuất kinh doanh hay phục vụ cho một mục đích tiêu dùng nào đó của các chủ thể trong nền kinh tế. Đồng thời trong nền kinh tế - xã hội, cũng luôn có cung vốn. Cung vốn là lựơng vốn hiện đang nhàn rỗi trong xã hội và có thể sử dụng cho các'mục đích khác nhau, hoặc cho tiêu dùng, hoặc cho các hoạt động đầu tư, xây dựng, sản xuất kinh doanh.

Với mỗi quốc gia nguồn cung vốn bao gồm: nguồn cung trong nước và nguồn cung từ bên ngoài. Nguồn cung trong nước: có thể chia thành nguồn cung từ tích luỹ và nguồn cân đối tạm thời. 5 Nguồn cung từ tích luỹ. Nguồn cung này bao gồm tiết kiệm của dân chúng, lợi nhuận của các doanh nghiệp, các quỹ chuyên dụng.

Tuỳ theo tình hình phát triển kinh tế của mỗi nước mà nguồn cung từ tích luỹ cao thấp khác nhau. Đây là nguồn cung có tính chất dài hạn và tương đối ổn định. Nguồn cân đổi tạm thời. Đây là nguồn cung vốn từ việc cân đối tạm thời các nguồn tiền hoặc quỹ chưa sử dụng đến của ngân sách hay của các doanh nghiệp,.

Nguồn vốn này mang tính chất tạm thời vì vậy nó không ổn định. Tuy nhiên quy mô của nó cũng không phải nhỏ. Nguồn vốn từ bên ngoài'. Đây là nguồn vốn từ các tổ chức tài chính - tiền tệ quốc tế hay các quốc gia khác chuyển đến, thường là từ các nước phát triển sang các nước chậm phát triển.

Nguồn vốn này bao gồm: kiều hối, đầu tư trực tiếp nước ngoài, đầu tư gián tiếp (đầu tư chứng khoán, các khoản cho vay, viện trợ,. Nguồn cung vốn từ bên ngoài có quy mô lớn nhưng là nguồn cung không liên tục và cũng không ổn định vì nó phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố khách quan bên ngoài hơn là các yếu tố chủ quan trong phạm vi quốc gia. Tất cả các nguồn vốn dù ở bên trong hay ngoài một quốc gia, hợp lại thành nguồn cung về vốn, đáp ứng nhu cầu vốn trong nền kinh tế. Tuy nhiên đây chỉ là những nguồn vốn tiềm năng.

Bởi vì, các nguồn cung vốn trên không phải luôn luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của người cần vốn tại bất cứ thời điểm nào, cho bất cứ đối tượng nào, với bất cứ quy mô nào. Như vậy, cung - cầu vốn tiền tệ xuất hiện và tồn tại là một thực tế khách quan, cần được giải quyết hợp lý và hiệu quả để tạo điều kiện cho nền kinh tế - xã hội tồn tại và phát triển. Trong xã hội hiện đại, việc giải quyết mâu thuẫn trong mối quan hệ tương quan giữa cung và cầu vốn tiền tệ có thể thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau: hoặc thông qua việc sử dụng các tổ chức tài chính trung gian (ngân hàng, công ty tài chính,.) hoặc thông qua việc việc sử dụng mô hình chuyển giao tài chính trực tiếp - đó chính là TTCK. Đây là một trong những lý do mà thị trường này còn được gọi là thị trường vốn.

Với cơ chế hoạt 6 động của thị trường vốn, lực lượng cung và cầu vốn tiền tệ có thể gặp gỡ nhau trực tiếp để đáp ứng nhu cầu của nhau. Nhờ vậy, mâu thuẫn trước mắt tạm thời được giải quyết, để rồi lại xuất hiện những mâu thuẫn mới đòi hỏi tiếp tục giải quyết. Và đây chính là nguồn "năng lượng", là xung lực để duy trì và phát triển hoạt động của TTCK. Thứ hai, sự xuất hiện các loại chứng khoán Đây là nguyên nhân trực tiếp quyết định sự ra đời của TTCK.

+ về phía Nhà nước: Khi ngân sách Nhà nước bị thiếu hụt, cũng có nghĩa là cầu về vốn tiền tệ xuất hiện, Chính phủ có thể sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để tạo ra nguồn bù đắp cho sự thâm hụt đó như: phát hành tiền, vay các ngân hàng, tìm nguồn tài trợ từ các đối tác nước ngoài,. Tuy nhiên các biện pháp này đều có những hạn chế và có thể gây nêri những hậu quả nhất định đối với nền kinh tế xã hội quốc gia. Vì vậy, một biện pháp được coi là tối ưu hơn cả, đó là Nhà nước trực tiếp vay nợ của mọi tầng lóp dân cư cũng như các chủ thể khác trong nền kinh tế dưới hình thức tín dụng Nhà nước, bằng cách phát hành trái phiếu chính phủ. + về phía doanh nghiệp: Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp là chủ thể thứ hai (sau Nhà nước), cũng có nhu cầu rất lớn và thường xuyên về vốn tiền tệ.

Được chủ động tạo vốn, doanh nghiệp sẽ lựa chọn phương án tài trợ hiệu quả nhất, nghĩa là với chi phí sử dụng vốn thấp nhất, ít rủi ro nhất. Nói chung, doanh nghiệp có hai giải pháp cơ bản đáp ứng nhu cầu về vốn đầu tư. Trước hết là khả năng tự tài trợ của doanh nghiệp. Tuý nhiên khả năng này là hạn chế và thường chỉ đáp ứng một phần nào đó nhu cầu vốn đầu tư.

Biện pháp thứ hai là huy động vốn từ bên ngoài. Chủ yếu có hai phương án, hoặc là vay vốn từ các tổ chức tín dụng, hoặc là phát hành trái phiếu hay cổ phiếu. Biện pháp truyền thống là vay ngân hàng, bên cạnh những ưu điểm cũng bộc lộ những khó khăn và hạn chế nhất định về thủ tục, điều kiện, tài sản đảm bảo, số lượng tiền vay. Việc phát hành trái phiếu hay cổ phiếu mở ra khả năng tài trợ tó lớn với những ưu điểm nổi trội so với các phương pháp truyền thống.

Các loại cổ phiếu và trái phiếu do công ty phát hành, chính là chứng khoán. 7 Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, sự xuất hiện các loại chứng khoán hoàn toàn là yêu cầu cần thiết và khách quan, vấn đề là làm thế nào để chứng khoán phát hành ra được nhà đầu tư chấp nhận. Đối với nhà đầu tư, điều mà họ quan tâm khi đầu tư vốn là tiền lời thu được từ khoản đàu tư, mức độ rủi ro, khả năng thanh khoản như thế nào,. Nếu đầu tư vào chứng khoán, khả năng thanh khoản của chứng khoán phụ thuộc vào khả năng mua bán chứng khoán.

Đe tạo ra được khả năng đó, con đường duy nhất hợp lý là phải hình thành cơ chế của một thị trường riêng biệt - một loại thị trường chuyên môn hoá các giao dịch mua bán những sản phẩm tài chính, các chứng khoán trung và dài hạn. Như vậy, sự ra đời của các loại chứng khoán cũng như quá trình thương mại hoá chúng vừa thoả mãn yêu cầu của người có vốn và người cần vốn, vừa là cơ sở để hình thành TTCK. Nghiên cứu lịch sử ra đời và phát triển của TTCK cho thấy: TTCK cũng như tất cả các loại thị trường khác, buổi bình minh của thị trường được hình thành một cách rất tự phát và sơ khai, từ những nhu cầu riêng lẻ của các thành viên trong xã hội mà lúc đầu chủ yếu là các thương gia. Khoảng giữa thế kỷ XV, tại một số các thành phố lớn ở các nước phương Tây, các thương gia thường xuyên gặp nhau tại các quán cà phê để trao đổi, mua bán các hàng hóa (nông sản, khoáng sản, ngoại tệ, chửng từ có giá).

Điểm đặc biệt là trong những cuộc thương lựợng này, các thương gia chỉ dùng lời nói để trao đổi với nhau, không có hàng hoá, ngoại tệ hay bất cứ một loại giấy tờ nào. Những cuộc trao đổi này lúc đầu chỉ có một nhóm nhỏ, dần dần số người tăng lên. Quy mô giao dịch cũng ngày càng gia tăng cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa. Khái niệm “thị trường” dần dần xuất hiện cùng với việc thống nhất các quy tắc giao dịch giữa các thành viên của thị trường vào những năm giữa thế kỷ XV.

Phiên chợ riêng (lữ quán của gia đình Vanber) đầu tiên diễn ra năm 1453 tại Bruges (Bỉ). Trước lữ quán này có một bảng hiệu vẽ 8 hình 3 túi da với một tiếng Pháp “Bourse” tức là “mậu dịch trường” hay còn gọi là “sở giao dịch”. Mậu dịch trường là một bảng hiệu chung, ba túi da tượng trưng cho 3 nội dung của mậu dịch trường: mậu dịch trường hàng hoá, mậu dịch trường ngoại tệ và mậu dịch trường chứng khoán. Đến năm 1547 mậu dịch trường tại thành phố Bruges bị suy sụp khi Bruges mất hẳn sự phồn vinh vì eo biển dẫn tàu bè vào thị trấn bị cát lấp mất.

Thị trường được dời đến hải cảng Auvers (Bỉ). Mậu dịch Auvers phát triển nhanh, và từ kinh nghiệm của nó mậu dịch trường ở các nước bắt đầu phát triển. Tại London vào giữa thế kỷ XVIII, một mậu dịch trường được thiết lập theo mẫu mậu dịch trường Auvers gọi là Stock Exchange, nơi mà sau này gọi là Sở giao dịch chứng khoán London. Kế tiếp sau đó là các mậu dịch trường của các nước Pháp, Ý, Đức, Bắc Âu.

cũng được thành lập. Với việc phát triển quy mô giao dịch một cách nhanh chóng, sự gia tăng các thành viên cũng như hàng hộa và nội dung giao dịch, thị trường dần dần được phân chia thành các thị trường khác nhau với các hàng hóa và tính chất giao dịch khác nhau như: thị trường hàng hóa và dịch vụ, thị trường hối đoái, thị trường họp đồng tương lai, thị trường chứng khoán. Phương thức giao dịch truyền thống ban đầu được diễn ra ngoài trời với những ký hiệu giao dịch bằng tay. Lòng bàn tay hướng về phía người gọi là lệnh mua, lòng bàn tay hướng ngược phía người gọi là lệnh bán, cáỡngón tay biểu thị mức giá.

Cho tới năm 1921, ở Hoa Kỳ, các khu chợ được chuyển vào trong nhà, Sở giao dịch chứng khoán chính thức được thành lập.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ