CHƯƠNG 1 1. Phân tích các quy luật sinh trưởng và phát triển ở người? 13 2. Hãy chứng minh cơ thể người là một khối thống nhất và là hệ thống tự điều chỉnh. Phân tích đặc điểm của chế điều tiết các chức năng trong cơ thể con người nhằm đảm bảo trạng thái nội cân bằng.
Phân tích đặc điểm của tuổi học sinh nhỏ có những đặc điểm gì? Trong giáo dục học sinh nhỏ, cần đặc biệt quan tâm đến vấn đề gì về mặt sinh lý? 5. Trình bày các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển về thể lực của trẻ lứa tuổi tiểu học. Từ đó, hãy đề xuất những biện pháp tác động nhằm nâng cao thể chất của trẻ em lứa tuổi tiểu học. MÁU Sau khi học xong chương 2, người học có thể: 1.
Trình bày được các kiến thức cơ bản về cấu tạo, chức năng và cơ chế hoạt động của máu. Trình bày được đặc điểm của quá trình sản xuất máu và các thành phần của nó. Giải thích được cơ chế đông máu, nhóm máu. Vận dụng được các kiến thức đã học vào giải thích cơ sở sinh lí học của biện pháp cầm máu khi trẻ bị chấn thương.
Chức năng của máu Máu là một tổ chức di động, là chất dịch lỏng, đục, màu đỏ, lưu thông trong hệ thống tuần hoàn đảm bảo mối liên hệ giữa các cơ quan trong cơ thể. Máu có các chức năng sau: - Chức năng vận chuyển các chất dinh dưỡng từ nhung mao ruột và khí O2 từ phổi đến mô cũng như vận chuyển khí CO2 từ mô đến phổi và sản phẩm của quá trình trao đổi chất đến các cơ quan bài tiết… - Chức năng cân bằng nước và muối khoáng nhằm đảm bảo sự ổn định nồng độ pH, áp suất thẩm thấu, nồng độ các ion kim loại … của nội môi. - Điều hoà nhiệt độ cơ thể nhờ có các đặc điểm sau: Máu chứa nhiêu nước mà tỷ lệ nhiệt của nước cao hơn so với tỷ lệ nhiệt của các dịch thể khác. Khi nước bốc hơi sẽ lấy nhiệt đi do đó làm giảm nhiệt độ cơ thể.
Nước trong máu là chất dẫn nhiệt tốt, có thể đem nhiệt độ từ nơi này đến nơi khác trong cơ thể thông qua sự lưu thông máu trên toàn cơ thể nhất là hệ mao mạch dưới da. - Chức năng bảo vệ cơ thể, chức năng này chủ yếu là do bạch cầu đảm nhiệm qua quá trình thực bào các vi khuẩn, các vật lạ, các độc tố xâm nhập vào cơ thể. Một số bạch cầu có khả năng sinh ra các kháng thể thực hiện các phản ứng miễn dịch bảo vệ cơ thể… 2. Thành phần của máu 2.
Khối lượng và thành phần của máu Khối lượng máu được tính theo phần trăm khối lượng cơ thể hay theo đơn vị ml/kg khối lượng cơ thể, thay đổi theo lứa tuổi. Tỉ lệ máu so với khối lượng cơ thể ở trẻ em lớn hơn người lớn. Trong quá trình phát triển của trẻ em, tỉ lệ máu so với khối lượng cơ thể giảm dần. Tỉ lệ máu so với khối lượng cơ thể của trẻ em.
STT Giai đoạn Tỉ lệ máu so với khối lượng cơ thể (%) 1 Sơ sinh 15 2 1 tuổi 11 3 6-11 tuổi 9 4 Người trưởng thành 7 Ngoài ra khối lượng máu còn thay đổi tùy theo trạng thái sinh lý cơ thể. Ví dụ: lượng máu tăng lên sau bữa ăn, khi mang thai và giảm khi đói, khi cơ thể bị mất nước, ở trẻ em có tỷ lệ thể tích máu so với trọng lượng cơ thể cao hơn người trưởng thành. Khi để máu lắng có thể phân biệt máu thành 2 phần. Phần trên trong suốt, có màu vàng nhạt là huyết tương tương chiếm 55-60% thể tích máu toàn phần.
Phần dưới có màu đỏ là các tế bào máu (hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu) chiếm 40-45% thể tích máu toàn phần. Huyết tương (Plasma) Huyết tương là một dịch thể lỏng, trong, màu vàng nhạt, vị hơi mặn, chiếm tỷ lệ 55-60% khối lượng máu toàn phần. Độ nhớt của huyết tương so với nước khoảng 1,7-2,2. Chức năng của huyết tương là tạo dòng chảy trong hệ mạch tạo điều kiện cho sự di chuyển của các tế bào máu, là dung môi hoà tan của các chất hữu cơ và vô cơ nên có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chức năng vận chuyển, đảm bảo áp suất thẩm thấu và độ ổn định pH trong máu, tham gia bảo vệ cơ thể.
Thành phần của huyết tương gồm: nước chiếm 90-92%; chất khô chiếm khoảng 8-10%. * Các chất hữu cơ chủ yếu của huyết tương gồm: Protein của huyết tương chiếm tỷ lệ 7,5%, gồm 3 loại chủ yếu: albumin, globulin, fibrinogen. - Albumin chiếm khoảng 54% protein toàn phần, tham gia vào cấu trúc, đặc trưng cho khả năng sinh trưởng phát triển của cơ thể, tham gia tạo ra áp suất thể keo của máu và tham gia vào quá trình vận chuyển các chất trong cơ thể. - Globulin chiếm khoảng 38% protein toàn phần gồm 4 loại 1, 2, , globulin.
Trong đó 1, 2, globulin tham gia vào quá trình vận chuyển các chất lipid như acid béo, phosphatid, steroid…còn globulin tham gia vào chức năng bảo vệ cơ thể, nó là những kháng thể có tác dụng trung hòa các kháng nguyên, tạo khả năng miễn dịch cho cơ thể. Đó là những globulin miễn dịch Ig (immunoglobulin) gồm 5 loại : IgG, IgA, IgM, IgD, IgE. Nồng độ Ig trong huyết tương tăng chứng tỏ cơ thể 16 đang phản ứng lại các kháng nguyên, và giảm trong các bệnh chức năng của các lympho giảm sút như trong các bệnh bạch cầu dòng hạt, bệnh thiếu lympho bẩm sinh… - Fibrinogen chiếm tỷ lệ 4-5% protien toàn phần, tham gia vào quá trình đông máu của cơ thể. Lipid của huyết tương không có dạng tự do mà kết hợp với protein tạo thành các hợp chất hoà tan là lipoprotein.
Hàm lượng lipoprotein tăng lên sau khi ăn. Lipid của huyết tương tham gia vào quá trình vận chuyển lipid của thức ăn vào cơ thể thông qua hệ bạch huyết, vận chuyển acid béo, cholesteron, ngoài ra lipid của huyết tương còn là nguyên liệu để tổng hợp các loại lipid, các loại hormone của các tuyến nội tiết. Glucid của huyết tương hầu hết ở dạng glucose có hàm lượng ổn định ở mức 1,0-1,2g/l và tăng lên sau bữa ăn. Nếu tỷ lệ glucose trong máu cao hơn 1,8g/l thì glucose sẽ được đào thải theo nước tiểu (bệnh đái tháo đường).
Glucid là nguồn cung cấp năng lượng và nguyên liệu cho quá trình tổng hợp các chất trong tế bào. * Các hợp chất hữu cơ không phải là protein Các hợp chất hữu cơ không phải là protein trong huyết tương gồm: - Nhóm có chứa N bao gồm các chất như acid uric, acid amin tự do, creatin, bilirubin và amoniac… - Nhóm không có chứa N gồm các chất như glucose, lipid, cholesteron, acid lactic. * Các thành phần vô cơ. Các chất vô cơ trong huyết tương chiếm 0,75% khối lượng của huyết tương, trong đó thành phần quan trọng nhất là muối NaCl, ngoài ra còn có muối calci, kali, magie…Các muối trong huyết tương thường ở dạng clorua, phosphat, bicarbonat.
Hàm lượng muối trong huyết tương thường không cao và được coi như là hoàn toàn phân li thành các ion như: Na+, K+, PO43-, HCO3- … 2. Hình dạng hồng cầu Tế bào hồng cầu ở người dạng hình tròn lõm 2 mặt, đường kính khoảng 7 - 8 m, dày khoảng 2 m ở xung quanh và 1m ở phần lõm, thể tích trung bình khoảng 77 ± 5 m3. Thành phần chung của hồng cầu gồm: nước 63-67%, chất khô 33-37% trong đó: protein 28%; các chất có nitơ 0,2%, ure 0,02%, glucid 0,075%, lipid và lecithin, cholesterol 0,3%. Hai thành phần quan trọng nhất của hồng cầu được nghiên cứu nhiều là hemoglobin (Hb) và màng hồng cầu.
17 - Mỗi hồng cầu có khoảng 200-300 triệu phân tử Hb, chiếm khoảng 1/3 khối lượng hồng cầu. Mỗi phân tử Hb gồm 1 phân tử globin (gồm 4 chuỗi polypeptid ) và 4 nhân hem. Globin gồm 4 chuỗi polypeptid giống nhau từng cặp là α, β, γ, δ. Hb ở bào thai là HbF (gồm 2 chuỗi α và 2 chuỗi γ).
Hb ở người trưởng thành gồm HbA1 (gồm 2 chuỗi α và 2 chuỗi β), HbA2 ( 2 chuỗi α và 2 chuỗi δ). Mỗi phân tử Hb có thể gắn với 4 phân tử oxy. 1g Hb gắn với 1,34 ml oxy. Ở trẻ em lứa tuổi tiểu học hàm lượng Hb khoảng 128±10g/l máu đối với nam và 128±0,9g/l máu đối với nữ.
- Màng hồng cầu có khả năng đàn hồi và có tính thấm chọn lọc. Màng hồng cầu mang nhiều kháng nguyên nhóm máu. Số lượng hồng cầu được tính bằng triệu/mm3 máu thay đổi tuỳ thuộc vào độ tuổi, trạng thái hoạt động, trạng thái sinh lý. Ở trẻ em giai đoạn 7 - 17 tuổi, số lượng hồng cầu 4,78 ± 0,44 triệu/mm3 máu ở nam và 4,80 ± 0,40 triệu/mm2 máu ở nữ.
Chức năng của hồng cầu - Chức năng vận chuyển O2 và CO2 được thực hiện bởi huyết cầu tố Hb. O2 liên kết Fe2+ của nhân Hem bằng liên kết hydro theo phản ứng sau: Phổi Hb + O2 HbO2 Mô bào CO2 liên kết với gốc NH2 của chuỗi polypeptid theo phản ứng sau: Mô bào R-NH2 +CO2 R-NHCOOH Phổi (Hb + CO2 HbCO2) Trong trường hợp Hb gặp CO (carbon monoxide) sẽ xảy ra phản ứng sau. Hb + CO HbCO HbCO là dạng liên kết bền do đó hàm lượng Hb tự do giảm, không đủ để vận chuyển O2 và CO2 kết quả dẫn đến hiện tượng ngộ độc khí CO (bị ngạt). - Chức năng miễn dịch: hồng cầu giữ lấy các phức hợp kháng thể - kháng nguyên - bổ thể tạo thuận lợi cho quá trình thực bào (các phức hợp miễn dịch có khả năng bám vào hồng cầu nhiều gấp 500-1000 lần so với bạch cầu).
- Chức năng điều hoà cân bằng acid - base trong máu thông qua hệ đệm protein. Đời sống hồng cầu trong cơ thể Ở giai đoạn bào thai, trong những tuần đầu của phôi hồng cầu được sản sinh ở lá phối giữa; từ tháng thứ hai trở đi, hồng cầu được sinh ra ở gan và lách; cuối giai đoạn bào thai về sau, hồng cầu được sinh ra ở tuỷ đỏ của xương. 18 Thời gian tồn tại của hồng cầu người khoảng 90-120 ngày. Khi hệ thống enzyme của hồn cầu giảm đi, màng hồng cấu trở nên dễ vỡ.
Khi đi qua các mao mạch nhỏ của lách, hồng cầu vỡ ra và giải phóng Hb. Hb sau khi được giải phóng sẽ bị các đại thực bào của gan, lách và tủy xương thực bào. Có 150 triệu hồng cầu bị tiêu huỷ trong 1 phút.