Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục với đề tài “Quản lý nhóm trẻ độc lập tư thục ở thành phố Hồ Chí Minh” được thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu thực tiễn và lý luận về việc quản lý loại hình chăm sóc, giáo dục mầm non ngoài công lập quy mô nhỏ tại đô thị đông dân cư.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ các định hướng chiến lược của Nhà nước và áp lực thực tế tại địa phương:

  • Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI nhấn mạnh yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, trong đó xác định đổi mới cơ chế quản lý giáo dục và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên là khâu then chốt.
  • Chương trình Nghị sự của Liên Hiệp Quốc về Phát triển bền vững đến năm 2030, tầm nhìn 2035 (mục tiêu số 4) và Luật Trẻ em năm 2016 đều đặt ra yêu cầu bảo đảm tiếp cận giáo dục chất lượng cho trẻ giai đoạn đầu đời mà không bị phân biệt đối xử.
  • Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2011-2020 đề ra chỉ tiêu: đến năm 2020 có ít nhất 40% trẻ em độ tuổi nhà trẻ và 80% độ tuổi mẫu giáo được chăm sóc, giáo dục tại các cơ sở giáo dục mầm non; hạ tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng xuống dưới 10%.
  • Tại Thành phố Hồ Chí Minh, quá trình phát triển kinh tế nhanh kéo theo dòng di cư lớn của lực lượng lao động nông thôn vào các khu công nghiệp, khu chế xuất. Do mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non công lập không đáp ứng đủ nhu cầu tiếp nhận trẻ dưới 36 tháng tuổi, các nhóm trẻ độc lập tư thục (ĐLTT) phát triển nhanh chóng.
  • Theo báo cáo của Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh, số lượng nhóm trẻ ĐLTT đã gia tăng từ 1.494 nhóm (năm 2014) lên 1.764 nhóm (năm 2016). Dù vậy, số trẻ dưới 36 tháng tuổi được thu hút vào các nhóm trẻ ĐLTT có phép mới chỉ đạt 19,8% trên tổng số trẻ trong độ tuổi; còn 10,6% trẻ phải gửi tại các nhóm, lớp chưa được cấp phép hoặc không phép. Các hiện tượng bạo hành trẻ em xuất hiện trong giai đoạn này chủ yếu xảy ra ở các nhóm trẻ ĐLTT, tập trung tại các cơ sở chưa được cấp phép.
  • Việc phân định trách nhiệm quản lý nhà nước giữa ngành giáo dục và đào tạo với chính quyền địa phương theo các quy định pháp luật hiện hành bộc lộ nhiều điểm chưa phù hợp với thực tiễn, dẫn tới tình trạng phân cấp quản lý mang tính hình thức.

Khoảng trống nghiên cứu mà tác giả xác định là: các nghiên cứu trong nước trước đây chủ yếu tập trung vào cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập quy mô trường học, chưa có công trình đi sâu nghiên cứu toàn diện mô hình quản lý nhóm trẻ ĐLTT dưới góc độ phân cấp quản lý kết hợp liên ngành theo chiều dọc và chiều ngang tại địa bàn đặc thù như Thành phố Hồ Chí Minh.

Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể như sau:

  • Mục đích nghiên cứu: Từ nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng, đề xuất các giải pháp quản lý nhóm trẻ ĐLTT tại Thành phố Hồ Chí Minh theo hướng tăng cường phân cấp và phối hợp trong quản lý, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý loại hình này trên địa bàn.
  • Khách thể nghiên cứu: Hoạt động quản lý nhóm trẻ ĐLTT tại địa phương.
  • Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa giải pháp phân cấp quản lý giáo dục với hiệu quả quản lý nhóm trẻ ĐLTT tại Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Giả thuyết khoa học: Quản lý nhóm trẻ ĐLTT ở Thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập. Có thể nâng cao hiệu quả quản lý nhóm trẻ ĐLTT trên địa bàn nếu đề xuất và thực thi được các giải pháp quản lý theo hướng tăng cường phân cấp, phối hợp trong quản lý giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục mầm non của thành phố và phù hợp với đặc trưng của nhóm trẻ ĐLTT tại đây.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý nhóm trẻ ĐLTT ở địa phương.
    2. Nghiên cứu thực trạng quản lý nhóm trẻ ĐLTT tại Thành phố Hồ Chí Minh.
    3. Đề xuất các giải pháp quản lý nhóm trẻ ĐLTT tại Thành phố Hồ Chí Minh theo hướng tăng cường phân cấp, phối hợp trong quản lý nhóm trẻ.
    4. Đánh giá sự cần thiết, tính khả thi và thử nghiệm một số giải pháp quản lý nhóm trẻ ĐLTT ở Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung: Tập trung vào vấn đề phân cấp quản lý theo chiều dọc (Sở Giáo dục và Đào tạo - Phòng Giáo dục và Đào tạo - Trường mầm non công lập), phối hợp quản lý theo chiều ngang (Ủy ban nhân dân các cấp - cơ quan, tổ chức liên quan - cộng đồng dân cư trong từng quận/huyện), kết hợp với quản lý bên trong của chủ nhóm trẻ dựa trên yêu cầu bảo đảm chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ.
    • Về không gian: Khảo sát thực trạng chuyên sâu tại 3 quận đại diện cho khu vực đông dân cư, có khu công nghiệp, khu chế xuất gồm Quận 7, Quận Bình Tân và Quận Thủ Đức; thử nghiệm giải pháp tại 10 quận/huyện có khu công nghiệp, khu chế xuất thuộc Thành phố Hồ Chí Minh.
    • Về thời gian: Khảo sát số liệu thực trạng trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2016.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành tổng quan các hướng nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến phân cấp quản lý giáo dục và quản lý cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập:

  1. Các nghiên cứu quốc tế về phân cấp quản lý giáo dục và giáo dục mầm non:
  • Về mô hình phân cấp: Tác giả chỉ ra hai mô hình phi tập trung hóa chính trên thế giới gồm phân cấp trực tiếp cho địa phương (áp dụng tại Argentina, Brazil, Chile) và phân cấp cho cấp trung gian trước khi tới địa phương (Colombia, Bolivia, Thái Lan). Bên cạnh đó, mô hình nhà trường tự chủ hay quản lý dựa vào nhà trường (SBM) được Caldwell (2005) xác định là hình thức phân cấp triệt để nhất khi ủy quyền sử dụng nguồn lực trực tiếp cho cấp trường.
  • Về lợi thế và rủi ro: Gropello (2002) chỉ ra các ưu thế của phân cấp gồm cải thiện phúc lợi xã hội, hiệu quả kỹ thuật, tăng cường nguồn lực tài chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả và phát huy sáng kiến chất lượng. Ngược lại, Aufret (2004) cảnh báo rủi ro về xung đột mục tiêu giữa các cấp quản lý, nguy cơ chính quyền địa phương chuyển dịch ngân sách giáo dục sang các mục tiêu ngắn hạn khác, và nguy cơ làm gia tăng khoảng cách bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục giữa gia đình giàu và nghèo. Rondinelli và Nennis (1986) ghi nhận xu hướng chuyển giao quyền quyết định xuống cấp hành chính thấp hơn và khu vực tư nhân nhằm giảm tải bộ máy trung ương và tiết kiệm ngân sách.
  • Về quản lý giáo dục mầm non: UNESCO ghi nhận xu thế nhà nước quản lý vĩ mô kết hợp phân tầng cho cấp dưới tại Thái Lan, Singapore qua các chính sách ưu đãi đất đai, thuế và tài chính. Carl Corter, Zeenat Janmohammed, Jing Zhang và Jane Bertrand khẳng định vai trò phối hợp đa ngành giữa địa phương và các doanh nghiệp, tổ chức xã hội. Tại Thái Lan, nhà nước chỉ cung ứng khoảng 30% ngân sách cho giáo dục mầm non, 70% còn lại do tư nhân và phụ huynh đóng góp. Ở Indonesia và Philippines, trách nhiệm được chia sẻ liên bộ giữa Bộ Giáo dục, Bộ Y tế và Bộ Phúc lợi Xã hội. Ở Thụy Điển, địa phương bảo đảm 80% tài chính thông qua thuế địa phương và trung ương tài trợ 20%. Ở New Zealand, chính phủ tài trợ 50% chi phí hoạt động cho tất cả các loại hình cơ sở mầm non đáp ứng chuẩn chất lượng của Bộ Giáo dục.
  • Về cơ sở giáo dục mầm non tư thục: Báo cáo OECD Starting Strong II lưu ý đến tác động của thay đổi kinh tế - xã hội tới khả năng tiếp cận và chất lượng chăm sóc trẻ. Quản lý cơ sở tư thục được các nước thực hiện qua hệ thống luật pháp (Thái Lan có Điều luật các trường tư thục 1982, Trung Quốc có Luật Phát triển Giáo dục ngoài công lập 2002, Hàn Quốc có Luật Giáo dục tư thục 1963, Pháp có luật từ thế kỷ XIX), qua chương trình giáo dục (như chương trình "Từng bước một" - Step by Step của Viện Xã hội mở) và qua chính sách tài chính (Mỹ cấp 60% vốn công cho các chương trình chăm sóc trẻ nhưng tỷ lệ cho cơ sở ngoài công lập rất thấp; Canada hỗ trợ tài chính trực tiếp theo đầu trẻ cho hộ gia đình).
  1. Các nghiên cứu trong nước về phân cấp và cơ sở mầm non ngoài công lập:
  • Khung chính sách quốc gia: Cơ chế phân cấp được thể chế hóa qua Nghị quyết Trung ương 2 Khóa VIII, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 Khóa IX, các Nghị định số 10/2002/NĐ-CP, Nghị định số 166/2004/NĐ-CP, Nghị quyết số 05/2005/NĐ-CP, và Nghị định số 115/2010/NĐ-CP của Chính phủ. Cơ chế này xác định mô hình phân cấp quản lý giáo dục tại Việt Nam mang tính phức hợp: kết hợp quản lý nhà nước tập trung của Trung ương (về mục tiêu, chương trình, hệ thống, đào tạo giáo viên) với việc trao quyền cho Ủy ban nhân dân và cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, huyện thực hiện quản lý tài chính, nhân sự, tuyển dụng.
  • Nghiên cứu của các tác giả trong nước: Đề tài cấp Bộ của Nguyễn Thị Quyên (mã số B2003-52-36 và B2005-80-15); đề tài của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội (2004); đề tài của Lương Thị Bình (mã số B2006-37-10); nghiên cứu "Phân cấp quản lý Giáo dục Việt Nam: thực trạng và xu hướng" (2014). Về cơ sở ngoài công lập, đề tài của Trần Thị Ngọc Trâm đề xuất 3 mô hình cơ sở mầm non ngoài công lập cùng 6 giải pháp vĩ mô và 5 giải pháp vi mô; Nguyễn Thúy Hiền nghiên cứu ưu nhược điểm chăm sóc giáo dục ngoài công lập; Nguyễn Văn Hùng khảo sát thực trạng phát triển mạng lưới trường lớp; Lê Thị Thu Ba đề xuất hệ thống 8 lĩnh vực gồm 44 tiêu chí đánh giá chất lượng và 6 giải pháp quản lý trường mầm non tư thục.
  • Nghiên cứu riêng về nhóm trẻ ĐLTT: Đề tài cấp Bộ B96-49-39 khảo sát mô hình trường lớp mầm non dân lập, tư thục chất lượng cao; Đề án "Hỗ trợ, phát triển nhóm trẻ độc lập tư thục ở khu vực công nghiệp, khu chế xuất đến năm 2020" của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (triển khai từ 2014); công trình của Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Mầm non thuộc Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam phối hợp với UNICEF Việt Nam khảo sát cơ chế quản lý nhóm trẻ ĐLTT tại các vùng đông dân cư, khu công nghiệp và miền núi, đề xuất các giải pháp lồng ghép chi phí thấp về chính sách, kinh tế và xã hội.

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết: Các công trình trước đây phần lớn dừng lại ở cấp độ trường mầm non tư thục hoàn chỉnh hoặc nghiên cứu lý thuyết phân cấp chung của toàn ngành giáo dục. Chưa có công trình nào đánh giá thực trạng chất lượng và phân tích mô hình phối hợp phân cấp ba chiều (chiều dọc ngành giáo dục, chiều ngang chính quyền địa phương, và chiều bên trong của chủ nhóm trẻ) đối với loại hình nhóm trẻ ĐLTT tại địa bàn đặc thù có tốc độ gia tăng dân số cơ học cao như Thành phố Hồ Chí Minh. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này nhằm cung cấp hệ thống giải pháp và bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý mang tính ứng dụng thực địa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng ba quan điểm tiếp cận lý luận nền tảng:

  1. Tiếp cận hệ thống: Hoạt động quản lý nhóm trẻ ĐLTT tại địa phương được cấu thành bởi bốn thành tố quản lý liên kết hữu cơ: lập kế hoạch; tổ chức thực hiện kế hoạch; chỉ đạo thực hiện kế hoạch; kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch.
  2. Tiếp cận phân cấp quản lý giáo dục: Xem xét việc phân định trách nhiệm, quyền hạn quản lý theo chiều dọc của ngành giáo dục và đào tạo (Sở - Phòng - Trường mầm non công lập) gắn liền với quản lý địa bàn theo chiều ngang của chính quyền địa phương (Ủy ban nhân dân các cấp - các ban ngành đoàn thể - cộng đồng dân cư), đồng thời tích hợp với quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm bên trong cơ sở của chủ nhóm trẻ.
  3. Tiếp cận thực tiễn: Khảo sát thực tế mạng lưới nhóm trẻ tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh để phát hiện chính xác các rào cản về nhân lực, tài chính, quy trình phối hợp, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi.

Các khái niệm công cụ và lý thuyết quản lý được định nghĩa:

  • Quản lý và quản lý giáo dục: Dựa trên hệ thống lý thuyết quản lý của Frederich Winslow Taylor, Henry Fayol, Mary Parker Follett, Harold Koontz, Cyrinz Weihrich, Trần Kiểm, Đặng Bá Lãm, Phan Văn Kha, Vũ Ngọc Hải, luận án định nghĩa: Quản lý là quá trình tác động có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra thông qua bốn chức năng (lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra - đánh giá). Quản lý giáo dục là sự tác động có tổ chức, hướng đích của chủ thể quản lý giáo dục tới đối tượng quản lý giáo dục nhằm đạt mục tiêu giáo dục.
  • Phân cấp quản lý giáo dục: Dẫn chiếu quan niệm của Faguet (2000), Gropello (2002), Mody (2004), Nguyễn Tiến Hùng (2014), phân cấp quản lý giáo dục là quá trình chuyển dịch trách nhiệm lập kế hoạch, quản lý, ra quyết định và phân bổ nguồn lực từ cấp quản lý bên trên xuống các cơ quan, bộ phận bên dưới và đến từng cơ sở giáo dục nhằm bảo đảm tính tự chủ và khai thác tối đa nguồn lực tại chỗ. Gershberg (2003) phân loại 4 cấp độ phân cấp: phi tập trung hóa, ủy quyền, trao quyền, tư nhân hóa.
  • Nhóm trẻ độc lập tư thục: Căn cứ Luật Giáo dục 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009), Điều lệ trường mầm non (2015) và nghiên cứu của Phan Văn Kha, nhóm trẻ ĐLTT là cơ sở giáo dục mầm non thuộc hệ thống giáo dục quốc dân tiếp nhận trẻ từ 3 tháng đến 36 tháng tuổi, do cá nhân đầu tư thành lập khi được cấp có thẩm quyền cho phép, tự cân đối thu chi bằng nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước, có quy mô tối đa không quá 50 trẻ.

Hệ thống phương pháp nghiên cứu được triển khai:

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp tài liệu; phân loại, hệ thống hóa và mô hình hóa các văn bản quy phạm pháp luật và công trình khoa học để xây dựng khung lý thuyết phân cấp và phối hợp quản lý.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Phương pháp điều tra bằng ankét: Dùng phiếu điều tra kết hợp trao đổi trực tiếp đối với giáo viên mầm non, chủ nhóm trẻ và cán bộ quản lý các cấp để tìm hiểu nhận thức, hoạt động thực tế và khó khăn trong công tác quản lý.
    • Phương pháp thảo luận nhóm theo chủ đề: Tổ chức lấy ý kiến theo từng nhóm chuyên biệt (giáo viên, cán bộ quản lý, cha mẹ học sinh và đại diện cộng đồng).
    • Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn trực tiếp cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên mầm non.
    • Phương pháp quan sát: Quan sát trực tiếp hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ, điều kiện cơ sở vật chất, đồ dùng đồ chơi và môi trường sư phạm tại các nhóm lớp.
    • Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục: Đánh giá các giải pháp chỉ đạo thực tế đã triển khai tại Thành phố Hồ Chí Minh để rút ra bài học kinh nghiệm.
    • Phương pháp thực nghiệm: Thực nghiệm quản lý nhằm kiểm chứng hiệu quả các giải pháp đề xuất.
  • Nhóm phương pháp bổ trợ: Phương pháp chuyên gia (lấy ý kiến đánh giá tính khoa học và khả thi của các nhận định) và phương pháp thống kê toán học (xử lý dữ liệu định lượng bằng phần mềm tin học).

Nguồn dữ liệu, tư liệu nghiên cứu:

  • Văn bản pháp lý: Luật Giáo dục, Điều lệ trường mầm non 2015, Thông tư số 13/2015/TT-BGDĐT (ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của trường mầm non tư thục), Thông tư số 28/2011/TT-BGDĐT, Thông tư số 48/2011/TT-BGDĐT (quy định chế độ làm việc của giáo viên mầm non), Thông tư liên tịch số 12/2001/TTLT/BHYT-BGDĐT, Quyết định số 58/2008/QĐ-BGDĐT (về hoạt động y tế học đường).
  • Số liệu thống kê: Báo cáo định kỳ của Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh, Phòng Giáo dục và Đào tạo các quận nghiên cứu.
  • Dữ liệu khảo sát thực tế: Dữ liệu ankét, biên bản thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu thu thập tại 3 quận (Quận 7, Bình Tân, Thủ Đức) và dữ liệu thực nghiệm tại 10 quận/huyện có khu công nghiệp, khu chế xuất.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhóm trẻ độc lập tư thục ở địa phương

Chương 1 thiết lập hệ thống khái niệm, mô hình phân cấp quản lý giáo dục và xác định các đặc trưng pháp lý, nghiệp vụ của nhóm trẻ ĐLTT trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Bảng 1 trong luận án tổng hợp sự khác biệt cơ bản giữa nhóm trẻ ĐLTT với các cơ sở giáo dục mầm non tư thục khác:

Nội dung đối chiếu Nhóm trẻ độc lập tư thục Nhà trẻ tư thục Trường mầm non tư thục
Đối tượng trẻ tiếp nhận Trẻ từ 3 tháng đến 36 tháng tuổi Trẻ từ 3 tháng đến 36 tháng tuổi Trẻ từ 3 tháng đến 6 tuổi
Quy mô số lượng trẻ Dưới 50 trẻ Trên 50 trẻ và không quá 20 nhóm trẻ Trên 50 trẻ và không quá 20 nhóm trẻ, lớp mẫu giáo
Cơ cấu tổ chức Gọn nhẹ: Chủ nhóm, giáo viên, nhân viên nuôi dưỡng; chia thành các nhóm trẻ theo độ tuổi Đầy đủ: Hội đồng quản trị (nếu có), Ban kiểm soát, Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, các tổ chuyên môn, tổ văn phòng, đoàn thể Đầy đủ: Hội đồng quản trị (nếu có), Ban kiểm soát, Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, các tổ chuyên môn, tổ văn phòng, đoàn thể
Quy định cơ sở vật chất Tối thiểu: Phòng nuôi dưỡng chăm sóc; thiết bị đồ chơi theo quy định tối thiểu; không bắt buộc các phòng chức năng độc lập Khối phòng nuôi dưỡng, phòng chức năng, sân chơi, khu vực hành chính theo quy định chuẩn của Điều lệ trường mầm non Khối phòng học, phòng chức năng, phòng hành chính quản trị, sân chơi riêng biệt theo quy định của Điều lệ trường mầm non
Thẩm quyền cho phép thành lập Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp phường/xã quyết định cho phép thành lập và hoạt động Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp quận/huyện quyết định cho phép thành lập Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp quận/huyện quyết định cho phép thành lập
Cơ quan tham mưu chuyên môn Phòng Giáo dục và Đào tạo tham mưu cho UBND cấp huyện; trường mầm non công lập hỗ trợ chuyên môn Phòng Giáo dục và Đào tạo quận/huyện giúp UBND thực hiện quản lý nhà nước Phòng Giáo dục và Đào tạo quận/huyện giúp UBND thực hiện quản lý nhà nước
Chế độ tài chính Tự cân đối thu chi, tự chịu trách nhiệm tài chính; huy động nguồn vốn ngoài ngân sách Tự cân đối thu chi, hạch toán độc lập, tuân thủ chế độ kế toán theo quy định hiện hành Tự cân đối thu chi, hạch toán độc lập, tuân thủ chế độ kế toán theo quy định hiện hành

Các chuẩn mực nghiệp vụ và điều kiện vận hành nhóm trẻ ĐLTT được hệ thống hóa chi tiết:

  • Quy mô nhóm theo lứa tuổi: Nhóm trẻ 3-12 tháng tối đa 15 trẻ; nhóm 13-24 tháng tối đa 20 trẻ; nhóm 25-36 tháng tối đa 25 trẻ. Trường hợp không đủ 50% số lượng tối đa thì ghép nhóm.
  • Tiêu chuẩn chủ nhóm: Phải có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên, có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục trẻ em hoặc chứng chỉ bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục.
  • Chế độ sinh hoạt và nuôi dưỡng: Trẻ tại cơ sở được tổ chức ăn tối thiểu 2 bữa chính và 1 bữa phụ; lượng nước uống cung cấp từ 0,8 đến 1,6 lít/trẻ/ngày (nước đun sôi, chứa bình đậy nắp kín, dùng trong 24 giờ). Giấc ngủ quy định theo độ tuổi: trẻ 12-18 tháng ngủ 2 giấc (90-120 phút/giấc); trẻ 18-36 tháng ngủ 1 giấc (khoảng 150 phút).
  • Theo dõi thể lực: Cân nặng trẻ 12-24 tháng thực hiện 1 lần/tháng, đo chiều cao 3 tháng/lần; trẻ 24-36 tháng cân đo 3 tháng/lần; trẻ dưới 24 tháng đo chiều dài nằm.
  • Yêu cầu diện tích và an toàn cơ sở vật chất: Phòng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đạt tối thiểu 1,2 đến 1,8 m2/trẻ; phòng vệ sinh tối thiểu 0,4 m2/trẻ; cầu thang có tay vịn và cửa chắn hai đầu; chấn song cửa sổ an toàn; bếp ăn bố trí độc lập, cách xa phòng học theo nguyên tắc một chiều.
  • Chế độ làm việc của giáo viên: Giáo viên dạy nhóm trẻ học 2 buổi/ngày phải bảo đảm dạy 6 giờ/ngày trực tiếp trên lớp và thực hiện các công việc chuẩn bị để đạt đủ 40 giờ/tuần (tương đương 8 giờ làm việc/ngày).

Về nội dung quản lý của các chủ thể:

  • Nội dung quản lý nội bộ của chủ nhóm: Lập kế hoạch phát triển giáo dục; tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch chuyên môn; kiểm tra, đánh giá việc thực hiện; quản lý nhân sự (tuyển dụng, phân công tối thiểu 2 người/nhóm, tạo động lực, bồi dưỡng); quản lý cơ sở vật chất; quản lý tài chính (lập dự toán các nguồn thu - chi, bảo đảm công khai và sử dụng đúng mục đích tiền ăn của trẻ).
  • Nội dung phân cấp của chính quyền và ngành giáo dục:
    • UBND cấp tỉnh và Sở GD&ĐT: Ban hành quy hoạch, kế hoạch phát triển GDMN, chỉ đạo kiểm tra, ban hành chính sách hỗ trợ phát triển GDMN địa phương.
    • UBND cấp quận/huyện và Phòng GD&ĐT: Lập quy hoạch mạng lưới, hướng dẫn UBND phường/xã quản lý, kiểm tra thanh tra. Phòng GD&ĐT trực tiếp tham mưu chuyên môn, quy định chứng nhận bảo đảm chất lượng, cấp phép, đình chỉ hoạt động và phân công trường công lập hướng dẫn.
    • UBND cấp phường/xã: Chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý hành chính, tiếp nhận thẩm định hồ sơ, ra quyết định thành lập, đình chỉ, giải thể nhóm trẻ và giải quyết đơn thư khiếu nại.
    • Trường mầm non công lập: Được Phòng GD&ĐT ủy quyền tư vấn, hướng dẫn chuyên môn, kiểm tra sổ sách dinh dưỡng, bán trú cho nhóm trẻ ĐLTT trên địa bàn.

Chương 2: Thực trạng quản lý nhóm trẻ độc lập tư thục tại Tp. Hồ Chí Minh

Chương 2 phản ánh thực trạng phát triển mạng lưới nhóm trẻ ĐLTT và phân tích thực trạng công tác quản lý trên địa bàn nghiên cứu:

  • Thực trạng mạng lưới và khả năng đáp ứng: Tại Thành phố Hồ Chí Minh, sự bùng nổ dân số cơ học tại các địa bàn có khu công nghiệp dẫn tới sự gia tăng nhanh chóng của các nhóm trẻ tư thục (tăng thêm 270 nhóm trong giai đoạn 2014-2016, đạt 1.764 cơ sở). Mặc dù giải quyết nhu cầu gửi con cho công nhân, tỷ lệ trẻ dưới 36 tháng tuổi được thu hút vào cơ sở có phép còn thấp (19,8%), trong khi tỷ lệ trẻ học tại cơ sở chưa cấp phép hoặc không phép chiếm tới 10,6%.
  • Thực trạng phân cấp quản lý theo chiều dọc của ngành GD&ĐT: Sự chỉ đạo chuyên môn từ Sở đến Phòng GD&ĐT và phân công trường mầm non công lập hỗ trợ các nhóm trẻ tư thục còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn. Các trường mầm non công lập chịu áp lực quá tải chuyên môn tại đơn vị mình nên việc hỗ trợ nhóm trẻ ĐLTT đôi lúc mang tính đối phó.
  • Thực trạng phối hợp quản lý theo chiều ngang: Trách nhiệm quản lý hành chính thuộc về UBND cấp phường/xã. Tuy nhiên, cán bộ văn hóa - xã hội cấp phường/xã kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ, thiếu kiến thức chuyên môn về giáo dục mầm non, dẫn tới việc thẩm định, cấp phép và hậu kiểm các nhóm trẻ chưa chặt chẽ, tạo kẽ hở cho các nhóm không phép hoạt động.
  • Thực trạng quản lý nội bộ của chủ nhóm:
    • Về quản lý hoạt động chăm sóc, giáo dục: Nhiều chủ nhóm chưa có nghiệp vụ sư phạm mầm non chuẩn mực, việc lập kế hoạch giáo dục theo Chương trình GDMN còn hình thức; chế độ sinh hoạt, khẩu phần dinh dưỡng chưa được theo dõi khoa học.
    • Về nhân sự: Đội ngũ giáo viên mầm non tại các nhóm trẻ ĐLTT biến động liên tục, tỷ lệ giáo viên qua đào tạo chính quy thấp, tình trạng thiếu giáo viên khiến tỷ lệ giáo viên/trẻ không bảo đảm, dẫn tới quá tải áp lực lao động và tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn, bạo hành trẻ.
    • Về cơ sở vật chất: Đa phần các cơ sở hoạt động trên nền nhà ở dân dụng thuê mướn, diện tích phòng chăm sóc và vệ sinh không bảo đảm chuẩn quy định (dưới 1,2 m2/trẻ), thiếu lối thoát hiểm, bếp ăn chưa thực hiện đúng quy trình một chiều.
    • Về tài chính: Thu chi mang tính tự phát, phụ thuộc hoàn toàn vào mức đóng góp của phụ huynh công nhân; chủ cơ sở thiếu tích lũy tái đầu tư trang thiết bị, đồ chơi bảo đảm chất lượng.

Chương 3: Giải pháp quản lý nhóm trẻ độc lập tư thục tại Tp. Hồ Chí Minh

Trên cơ sở lý luận và kết quả khảo sát thực trạng, Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhóm trẻ ĐLTT tại Thành phố Hồ Chí Minh theo cơ chế phối hợp dọc - ngang và tăng cường năng lực tự quản của chủ nhóm:

  1. Tăng cường nhận thức xã hội: Tổ chức tuyên truyền sâu rộng cho các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, các đoàn thể, chủ nhóm, giáo viên và phụ huynh về vai trò của nhóm trẻ ĐLTT và tầm quan trọng của giáo dục giai đoạn 0-3 tuổi.
  2. Quy hoạch mạng lưới: Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển mạng lưới nhóm trẻ ĐLTT phù hợp với tốc độ đô thị hóa và phân bố dân cư tại các khu công nghiệp, khu chế xuất của Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Hoàn thiện cơ chế chính sách và phân cấp: Cụ thể hóa các quy định của Trung ương về phân cấp quản lý giáo dục phù hợp với đặc thù đô thị; quy định rõ ràng trách nhiệm phối hợp giữa Phòng GD&ĐT với UBND cấp phường/xã; đơn giản hóa thủ tục cấp phép song thắt chặt quy trình thanh tra, giám sát định kỳ.
  4. Bồi dưỡng đội ngũ: Tổ chức các chương trình tập huấn bắt buộc về kỹ năng quản lý cơ sở giáo dục cho chủ nhóm; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, an toàn vệ sinh thực phẩm và kỹ năng xử lý tình huống cho giáo viên, nhân viên nuôi dưỡng.
  5. Xây dựng bộ tiêu chuẩn đánh giá: Thiết lập hệ thống tiêu chí khoa học nhằm đo lường, đánh giá định kỳ hiệu quả quản lý và chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ tại các nhóm trẻ ĐLTT trên địa bàn.
  6. Bảo đảm chính sách và thi đua khen thưởng: Thực hiện các chính sách hỗ trợ tài chính, vay vốn ưu đãi, miễn giảm thuế; hỗ trợ bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội cho giáo viên mầm non tư thục; xây dựng cơ chế thi đua, khen thưởng công bằng giữa khối công lập và tư thục.

Chương này cũng trình bày kết quả lấy ý kiến chuyên gia về tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp, đồng thời báo cáo kết quả thử nghiệm một số giải pháp quản lý tại 10 quận/huyện có khu công nghiệp, khu chế xuất trên địa bàn thành phố, khẳng định tính đúng đắn của giả thuyết nghiên cứu đã đề ra.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án chỉ rõ các đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và ứng dụng thực tiễn:

  1. Về mặt lý luận:
  • Hệ thống hóa và làm phong phú thêm cơ sở lý luận về quản lý nhóm trẻ ĐLTT tại các địa phương trong bối cảnh phân cấp quản lý giáo dục.
  • Xác lập mô hình phối hợp quản lý ba chiều: tích hợp chiều dọc của ngành chuyên môn (Sở - Phòng - Trường mầm non công lập), chiều ngang của bộ máy chính quyền địa phương (UBND các cấp - ban ngành - cộng đồng dân cư) và quản lý vi mô bên trong của chủ cơ sở.
  • Xây dựng được khung khái niệm và hệ thống các tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý nhóm trẻ ĐLTT.
  1. Về mặt thực tiễn:
  • Cung cấp bức tranh thực trạng toàn diện, có căn cứ khoa học về mạng lưới nhóm trẻ ĐLTT và công tác quản lý loại hình này tại Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2014-2016.
  • Chỉ rõ những nguyên nhân cốt lõi gây ra các bất cập: sự phân cấp thiếu đồng bộ giữa cơ quan chuyên môn và cơ quan quản lý hành chính lãnh thổ; việc thực thi phân cấp còn hình thức; năng lực quản lý của chủ nhóm chưa đáp ứng yêu cầu tự chủ.
  • Đề xuất hệ thống các giải pháp quản lý đồng bộ từ quy hoạch, hoàn thiện thể chế phân cấp, đào tạo nhân lực đến chính sách tài chính hỗ trợ.
  • Kết quả thử nghiệm các giải pháp tại 10 quận/huyện có khu công nghiệp khẳng định khả năng vận dụng thực tiễn của đề tài trong việc kiểm soát các nhóm trẻ không phép và nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, bảo vệ trẻ em.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên phạm vi và các giới hạn được tác giả trình bày trong luận án:

  • Về phạm vi thời gian: Khảo sát thực trạng chỉ tập trung phản ánh dữ liệu trong giai đoạn 2015-2016, do đó các biến động kinh tế - xã hội và các văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau giai đoạn này chưa được cập nhật trong phân tích thực nghiệm.
  • Về phạm vi không gian: Khảo sát thực trạng sâu chỉ giới hạn tại 3 quận (Quận 7, Bình Tân, Thủ Đức) và thử nghiệm tại 10 quận/huyện tập trung khu công nghiệp, khu chế xuất. Do đó, các đặc điểm quản lý nhóm trẻ ĐLTT tại các vùng nông thôn ngoại thành hoặc các tỉnh/thành phố khác chưa được nghiên cứu toàn diện.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi, đánh giá tác động lâu dài của việc triển khai bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý nhóm trẻ ĐLTT trên diện rộng; mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các loại hình liên kết giữa doanh nghiệp sử dụng lao động với cơ sở giáo dục mầm non tại các khu công nghiệp.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho nhiều đối tượng:

  • Cán bộ quản lý ngành giáo dục và đào tạo (Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT): Tham khảo khung quy trình phối hợp chuyên môn, quy trình chỉ đạo trường mầm non công lập hỗ trợ mạng lưới tư thục và áp dụng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý.
  • Chính quyền địa phương cấp quận/huyện và phường/xã: Cung cấp căn cứ nghiệp vụ để tổ chức thẩm định cấp phép, kiểm tra, đình chỉ và giám sát nhóm trẻ ĐLTT trên địa bàn quản lý hành chính.
  • Chủ nhóm trẻ và giáo viên mầm non tư thục: Cung cấp tài liệu hướng dẫn về quy trình quản lý 4 thành tố (chăm sóc giáo dục, nhân sự, cơ sở vật chất, tài chính) và các định mức kỹ thuật chuyên môn về dinh dưỡng, vệ sinh, an toàn.
  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Quản lý giáo dục: Tham khảo phương pháp tiếp cận nghiên cứu phối hợp phân cấp dọc - ngang và phương pháp khảo sát thực địa kết hợp thử nghiệm trong giáo dục mầm non.

Câu hỏi thường gặp

  1. Theo số liệu khảo sát của luận án, thực trạng mạng lưới nhóm trẻ ĐLTT tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2014-2016 diễn biến như thế nào? Theo báo cáo của Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh được trích dẫn trong luận án, số lượng nhóm trẻ ĐLTT tăng từ 1.494 nhóm (năm 2014) lên 1.764 nhóm (năm 2016). Tuy nhiên, số trẻ dưới 36 tháng tuổi được thu hút vào các nhóm trẻ ĐLTT có phép mới đạt 19,8% trên tổng số trẻ trong độ tuổi; vẫn còn 10,6% trẻ học ở các nhóm, lớp chưa được cấp phép hoặc không phép.

  2. Tiêu chuẩn về diện tích phòng học và phòng vệ sinh đối với một nhóm trẻ ĐLTT được pháp luật quy định ra sao? Căn cứ các văn bản quy phạm pháp luật được luận án hệ thống hóa, phòng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục của nhóm trẻ ĐLTT phải có diện tích trung bình tối thiểu từ 1,2 m2 đến 1,8 m2 cho một trẻ; phòng vệ sinh phải bảo đảm diện tích trung bình tối thiểu là 0,4 m2 cho một trẻ.

  3. Thẩm quyền quyết định thành lập và phân cấp quản lý chuyên môn đối với nhóm trẻ ĐLTT được phân định như thế nào? Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp phường/xã có thẩm quyền ra quyết định cho phép thành lập và hoạt động của nhóm trẻ ĐLTT trên địa bàn. Phòng Giáo dục và Đào tạo cấp huyện thực hiện chức năng tham mưu chuyên môn cho Ủy ban nhân dân cấp huyện, chỉ đạo chuyên môn đối với nhóm trẻ và phân công trường mầm non công lập trên địa bàn trực tiếp hướng dẫn, hỗ trợ nghiệp vụ cho nhóm trẻ ĐLTT.

  4. Quy định về chế độ làm việc đối với giáo viên trực tiếp chăm sóc trẻ tại các nhóm trẻ ĐLTT học 2 buổi/ngày là bao nhiêu giờ? Căn cứ Thông tư số 48/2011/TT-BGDĐT được dẫn chiếu trong luận án, mỗi giáo viên mầm non dạy trên lớp đối với nhóm trẻ học 2 buổi/ngày phải bảo đảm thời gian dạy trực tiếp đủ 6 giờ/ngày và thực hiện các công việc chuẩn bị cho giờ dạy để quy đổi bảo đảm định mức lao động 40 giờ/tuần (trung bình 8 giờ làm việc/ngày).

  5. Địa bàn và thời gian khảo sát thực trạng cùng phạm vi thử nghiệm giải pháp của luận án được tiến hành ở đâu? Khảo sát thực trạng chuyên sâu được thực hiện trong thời gian từ năm 2015 đến 2016 tại 3 quận gồm Quận 7, Quận Bình Tân và Quận Thủ Đức (đại diện cho địa bàn đông dân cư và có khu công nghiệp, khu chế xuất). Phạm vi thử nghiệm giải pháp được tiến hành tại 10 quận/huyện có khu công nghiệp, khu chế xuất trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

Kết luận

Luận án tiến sĩ “Quản lý nhóm trẻ độc lập tư thục ở thành phố Hồ Chí Minh” đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu thông qua việc làm sáng tỏ cơ sở lý luận của mô hình phân cấp quản lý giáo dục kết hợp theo chiều dọc (ngành giáo dục), chiều ngang (chính quyền địa phương) và năng lực tự quản bên trong của chủ nhóm trẻ. Luận án đã phản ánh trung thực thực trạng phát triển mạng lưới, những hạn chế về chất lượng chăm sóc và rào cản hành chính tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2015-2016. Hệ thống 6 nhóm giải pháp cùng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý được đề xuất có giá trị thực tiễn cao, đáp ứng yêu cầu nâng cao an toàn và chất lượng chăm sóc trẻ mầm non tại các đô thị tập trung khu công nghiệp.