CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÓM TRẺ ĐỘC LẬP TƯ THỤC Ở ĐỊA PHƯƠNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về phân cấp quản lý giáo dục a) Những nghiên cứu ở nước ngoài a.Nghiên cứu những vấn đề chung về phân cấp quản lý giáo dục Thực tế, nghiên cứu về sự phân cấp trong quản lí GD trên thế giới có 2 mô hình quản lí giáo dục (phi tập trung hóa) là phân cấp trực tiếp cho địa phương và phân cấp cho cấp trung gian, rồi mới đến địa phương [23]. Mô hình phân cấp trực tiếp cho địa phương coi địa phương (như tỉnh/ thành phố) là trọng tâm của quá trình chuyển giao quyền ra quyết định, tức là cấp địa phương được trao một số lượng lớn quyền ra quyết định để quản lý nhà trường, còn nhà trường có rất ít quyền lực.
Đây là mô hình phổ biến ở Argentina, Brazil và Chi Lê. Mô hình phân cấp cho cấp trung gian phổ biến là thay vì việc trao quyền trực tiếp cho địa phương, một số quốc gia như Colombia, Bolivia, Thái Lan. thiết lập một Ban giám đốc vùng (cấp trung gian) và trao quyền cho cấp này thay mặt cấp trung ương quản lý nhà trường. Thực chất cả 2 mô hình phi tập trung trên có thể coi là mô hình tập trung nếu xét trong phạm vi địa phương hay vùng, vì nhà trường hầu như không có quyền lực gì [36].
Bên cạnh 2 mô hình trên, còn có mô hình nhà trường tự chủ với đặc điểm chính là coi trường là trọng tâm của quá trình phân cấp và ủy quyền ra quyết định cho nhà trường [23]. Theo nghiên cứu của Caldwell, B. (2005) thì quản lý dựa vào nhà trường được hiểu như là hình thức phân cấp quản lý giáo dục triệt để nhất, mà theo đó việc dịch chuyển quyền ra quyết định sử dụng nguồn lực được ủy quyền cho cấp thực hiện - cấp trường phổ thông. Xu thế này phát triển mạnh trong nhiều thập kỷ qua và được hầu hết các quốc gia trên thế giới áp dụng thành công [23].
Nghiên cứu của Gropello, 2002 cũng chỉ ra những lợi thế cơ bản của phân cấp quản lý giáo dục, đó là: (-) Có thể cải thiện phúc lợi xã hội; (-) Cải thiện hiệu quả kỹ 9 thuật (-) Tăng cương nguồn lực tài chính giáo dục (-) Tăng cường tính hiệu lực và hiệu quả (-) Cải thiện chất lượng giáo dục và phát huy sáng kiến. Tuy nhiên, nghiên cứu của Aufret, 2004 [93] cho thấy phân cấp quản lý giáo dục cũng chứa đựng nhiều rủi ro khác nhau, có thể nêu: (-) Các cấp khác nhau tham gia vào quản lý giáo dục có nhiều mục tiêu khác nhau thậm chí trái ngược nhau. (-) Các nhà quản lý địa phương có thể sử dụng ngân sách giáo dục để tài trợ cho các mực tiêu cấp thiết nhưng ngắn hạn hơn là chi tiêu cho giáo dục, nhất là ở các địa phương nghèo. (-) Có thể ảnh hưởng tiêu cực đến đảm bảo công bằng trong tiếp cận với giáo dục giữa trẻ em gia đình giàu và nghèo, hay nói cách khác, phân cấp có thể làm tăng khoảng cách giữa nghèo và giàu thông qua việc tạo ra nền giáo dục tốt hơn cho người học ở khu vực giàu có, dẫn đến tạo nhiều cơ hội cho họ đạt học vấn tốt hơn.
Mặc dù vậy, do khó khăn về tài chính nên nhiều quốc gia thực hiện chính sách phân cấp quản lý giáo dục theo kiểu phi tập trung hóa- trao quyền quản lý giáo dục cho cấp thấp hơn như vùng/ bang/ tỉnh/ thành phố…Đồng thời, chuyển giao quyền lực cho khu vực tư nhân (kiểu tư nhân hóa) nhưng vẫn dưới định hướng quản lý của nhà nước. Theo nghiên cứu của Rondinelli, D and J. Nennis (1986) [111] cho thấy: trên thế giới, từ những năm 1980 nhiều nước đã thử nghiệm và thực hiện phân cấp hệ thống giáo dục theo hướng trao quyền ra quyết định ở cấp chính phủ tới các cấp hành chính thấp hơn (Bang, thành phố, tỉnh) và cấp trường, với mục đích giảm sự cồng kềnh của bộ máy quản lý trung ương, cũng như tiết kiệm được ngân sách. Nghiên cứu về phân cấp quản lý trong giáo dục mầm non Các nghiên cứu về phân cấp quản lí trong GDMN hiện nay thể hiện xu hướng tập trung vào việc trao quyền cho các cấp quản lí địa phương và dựa vào việc phân chia độ tuổi của trẻ; ngoài ra, phân tích và đề xuất cấu trúc hệ thống quản lý CSGDMN công lập và ngoài công lập ở một số quốc gia, cũng như những vấn đề về giáo viên, về chương trình học và sự ảnh hưởng của nó tới chất lượng GDMN [50], [110].
Có thể kể đến một số nghiên cứu như: - Nghiên cứu của UNESCO đã chỉ ra: "Nhà nước quản lí ở cấp vĩ mô sau đó phân tầng quản lí cho các cơ quan cấp dưới như một số nước trong khu vực: Thái Lan, Singapore… xây dựng các cơ chế, chính sách thúc đẩy sự phát triển của các cơ sở GDMN ngoài công lập (như thực hiện các chính sách hỗ trợ, ưu đãi về kinh phí, cơ sở 10 vật chất, chính sách ưu đãi về thuế.), tạo ra môi trường cạnh tranh công bằng, hướng tới sự phát triển chung [50]. - Các tác giả Carl Corter, Zeenat Janmohammed, Jing Zhang, Jane Bertrand trong nghiên cứu của mình đã khẳng định: cần tăng cường vai trò trách nhiệm trong phát triển GDMN của các cấp tỉnh, vùng miền, khu vực và địa phương của các bộ ngành liên quan, đồng thời chỉ ra GDMN là bộ phận của các dịch vụ phúc lợi của các bộ, ngành, các tổ chức, các nhà máy, các doanh nghiệp tư nhân, tập thể hoặc của nhà nước. Các chi phí đầu tư cho GDMN cũng khác nhau tùy theo các dịch vụ [116]. - Sự phân cấp quản lí GDMN ở một số nước trên thế giới gặp nhau ở điểm chung là Chính phủ không trực tiếp tổ chức, quản lý các CSGDMN mà có sự phân cấp trách nhiệm rõ ràng giao trách nhiệm cho các tổ chức Nhà nước, chính quyền địa phương, tư nhân tổ chức quản lý, Chính phủ có thể đóng vai trò hỗ trợ về tài chính và tư vấn thêm về quản lý, chuyên môn.
Có thể kể đến một số nước tiêu biểu như: + Thái Lan: Nhà nước chỉ tổ chức một số CSGDMN, phần còn lại do tư nhân tự tổ chức, quản lý. Vì GDMN không bắt buộc nên sự phân bổ ngân sách không đáp ứng đủ nhu cầu: Nhà nước cung cấp một phần (khoảng 30%), còn lại do khu vực tư nhân (cha mẹ, các hội, các nhà tổ chức). Ở trường mẫu giáo công, chủ yếu ở đô thị, chính phủ chi xây dựng nhà cửa, trang thiết bị, lương giáo viên và các chi phí khác. Ở các trung tâm phát triển trẻ khu vực nông thôn Chính phủ cung cấp ngân sách cho trang thiết bị và lương cho GV, cha mẹ trả các chi phí khác.
Ở các vùng đặc biệt khó khăn, các dịch vụ GDMN thường được các tổ chức phi Chính phủ tài trợ gần như hoàn toàn. Các trường mầm non tư thục trong những điều kiện nhất định đều được Nhà nước hỗ trợ định kỳ tính trên đầu trẻ [90] [101]. + Indonexia, Philipin: Luật GD công nhận GDMN là giai đoạn tiền đề cho hệ thống giáo dục cơ bản và nhấn mạnh trách nhiệm của cha mẹ phải đảm bảo cho trẻ có cơ hội được học tập. Gia đình và Chính phủ phải cùng chia sẻ trách nhiệm đối với GDMN nhằm thực hiện Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em.
Ở đây hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ MN được tổ chức cả ở hệ chính quy và không chính quy: Trung tâm chăm sóc trẻ, trường mầm non, trường mẫu giáo, chương trình cho các bố mẹ…Các cơ sở dịch vụ này được sự quản lý, hỗ trợ từ các Bộ: Bộ Giáo dục, Bộ Y tế, Bộ Phúc lợi 11 XH. Nguồn kinh phí hoạt động các cơ sở dịch vụ GDMN do Chính phủ, chính quyền địa phương chịu trách nhiệm một phần; cha mẹ trả tiền ăn cho trẻ và đóng góp một phần chi phí. Ở các vùng đặc biệt khó khăn, các dịch vụ GDMN thường được các tổ chức phi Chính phủ tài trợ gần như hoàn toàn [92]. + Thụy Điển: Các CSGDMN được Nhà nước tài trợ hoàn toàn dưới sự quản lý của Bộ Giáo dục và Khoa học: 80% yêu cầu tài chính của các trường do địa phương đáp ứng, nguồn tài chính này chủ yếu từ nguồn thuế của địa phương; 20% nguồn tài chính còn lại do Chính phủ cung cấp chủ yếu nhằm hỗ trợ các địa phương có nguồn taì chính ít hơn nhằm giải quyết những vấn đề về công bằng.
Luật giáo dục nhấn mạnh các trường được cấp địa phương quản lý song phải tuân thủ những tiêu chuẩn tương đương áp dụng trên phạm vi toàn quốc [92]. + New Zealand: Các CSGDMN do cộng đồng hoặc do các tổ chức tư nhân thành lập, Chính phủ tài trợ cho tất cả các loại hình với điều kiện tiên quyết là CSGDMN đó phải đáp ứng được các chuẩn do Bộ Giáo dục đưa ra. Theo nguyên tắc, Chính phủ tài trợ 50% chi phí hoạt động của các CSGDMN không phân biệt cơ sở công lập, dân lập hay tư thục. Phần còn lại do cha mẹ đóng góp.
Các gia đình có khó khăn hoặc có con tuổi MN bị khuyết tật có thể làm đơn xin miễn đóng góp thông qua Vụ phúc lợi của Chính phủ [43]. Như vậy, các nghiên cứu cho thấy phân cấp quản lý trong GDMN cho địa phương và trao quyền ở các mức độ khác nhau cho Cha, Mẹ, cộng đồng trong quản lý và tham gia đóng góp kinh phí cho các CSGDMN ngoài công lập với quy mô nhỏ là xu hướng chủ yếu ở các nước trong khu vực và trên thế giới. b) Nghiên cứu trong nước về phân cấp quản lý giáo dục Việc phân cấp quản lý giáo dục được đề cập đến trong các Nghị quyết Đại hội Đảng, trong Luật Giáo dục 2005… Điển hình là chủ trương về phân cấp quản lý giáo dục với định hướng “Phân cấp cho uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý toàn diện giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, có thể cả một số trường cao đẳng” đã được đề ra trong NQTW2 - Khoá VIII.