CHƯƠNG 3 MÔ VÀ TỔ CHỨC CƠ THỂ ĐỘNG VẬT MH09-03 Giới thiệu Sự sống là quá trình tự điều chỉnh để thích nghi, tồn tại và phát triển ở các mức độ khác nhau: tế bào mô cơ quan hệ cơ quan cơ thể. Tế bào là đơn vị cấu trúc ở mức độ hiển vi của sự sống. Tế bào còn là đơn vị chức năng của cơ thể. Chúng có khả năng đồng hóa thức ăn, hô hấp, bài xuất, chế tiết, trả lời các kích thích, sinh trưởng và sinh sản.
Những tế bào có hình dạng, kích thước tương đối giống nhau, cùng thực hiện chức năng kết hợp tạo thành những loại mô chuyên biệt: mô cơ, mô liên kết, mô thần kinh…Một tập hợp các loại mô có liên quan với nhau hình thành một cơ quan. Nhiều cơ quan hợp lại tạo thành hệ cơ quan. Nhiều hệ cơ quan hợp lại tạo thành cơ thể. Mục tiêu: - Kiến thức: Biết được kiến thức cơ bản về mô và hệ cơ quan ở động vật.
Giúp sinh viên hiểu tổng quát về tổ chức cơ thể động vật. - Kĩ năng: Phân biệt được các loại mô động vật. - Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Rèn luyện tính cẩn thận, tỉ mỉ trong thực hiện và quan sát tiêu bản mô động vật. Các loại mô động vật: Mô là một nhóm tế bào có cùng cấu trúc và chức năng.
Mô động vật thường được chia thành 4 loại chính: biểu mô, mô liên kết, mô cơ và mô thần kinh. Chúng có ở hầu hết các động vật trừ những động vật đơn giản. Các loại mô được đề cập chi tiết dưới đây chủ yếu là ở các động vật có xương sống, nhất là ở người. Sự phân chia các loại mô động vật được tóm tắt trong bảng 3.
Biểu mô: Biểu mô tạo thành một lớp vỏ bao bọc hoặc lót tất cả các bề mặt tự do của cơ thể, cả ngoài lẫn trong, chẳng hạn phía ngoài da, lớp màng trong của ống tiêu hóa, phổi, mạch máu, xoang cơ thể. Các tế bào biểu mô được kết chặc với nhau bởi một ít chất keo và hầu hết không có khoảng gian bào. Do đó chúng tạo 56 thành một rào chắn liên tục bảo vệ các tế bào bên dưới. Vì bất kỳ chất nào vào ra cơ thể đều phải đi qua ít nhất một lớp biểu mô nên tính thấm của các tế bào biểu mô có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc điều hòa sự trao đổi chất giữa các phần khác nhau của cơ thể và giữa cơ thể với môi trường ngoài.1: Các loại mô động vật 1) Biểu mô Biểu mô đơn 2) Mô liên kết Mô mạch Biểu mô lát đơn Máu Biểu mô khối đơn Bạch huyết Biểu mô trụ đơn Biểu mô tầng Mô liên kết thật Biểu mô lát tầng Mô sụn Biểu mô khối tầng Mô xương Biểu mô trụ tầng 3) Mô cơ Cơ vân 4) Mô thần kinh Cơ trơn Cơ tim Vì một mặt của biểu mô tiếp xúc với không khí hoặc chất dịch và mặt đối diện tiếp xúc với các lớp tế bào khác, đồng thời chúng cũng tham gia một phần trong sự di chuyển qua lại của vật chất nên hai mặt nầy có sự khác biệt.
Mặt tự do của biểu mô được chuyên hóa cao, thường sản sinh ra lông, tóc. Chúng cũng có thể có các hốc sâu và đôi khi được bao phủ bởi các tuyến nhờn. Màng của tế bào biểu mô có tính thấm không đồng nhất: mặt ngoài của tế bào tiếp xúc với môi trường ngoài hoàn toàn khác với phần màng tiếp giáp với các tế bào mô khác. Các tế bào biểu mô thường được chia làm 3 loại: tế bào lát, tế bào khối và tế bào trụ.
Các tế bào lát có dạng đĩa mỏng, dẹp. Các tế bào khối có dạng hình khối (quan sát trên lát cắt dọc) hoặc hình lục giác (quan sát trên lát cắt ngang). Các tế bào trụ cao, có dạng hình chữ nhật (quan sát lát cắt ngang). 57 Biểu mô có thể là biểu mô đơn chỉ gồm một lớp tế bào hoặc biểu mô tầng gồm 2 hoặc nhiều lớp tế bào.
Ngoài ra còn có một loại thứ ba là biểu mô giả tầng chỉ gồm một lớp tế bào nhưng các nhân tế bào không sắp xếp trên cùng một độ cao, do đó tạo ra hình ảnh nhiều lớp tế bào. Tất cả các loại biểu mô được gọi tên dựa trên cơ sở loại tế bào và số lớp tế bào. Biểu mô thường được phân cách với các mô bên dưới bằng lớp màng nền có chứa các sợi keo.1: Các loại biểu mô Các tế bào biểu mô thường trở thành các tế bào chuyên hóa như tế bào tuyến tiết các chất mồ hôi, chất dầu hoặc chất nhờn trên bề mặt biểu mô. Ðôi khi một phần của biểu mô trở nên rỗng và các tuyến đa bào được tạo thành.
Mô liên kết: Trong mô liên kết, các tế bào thường được vùi trong chất cơ bản (matrix) và phân bố rải rác. Phần lớn thể tích của mô liên kết là chất cơ bản, chúng có thể là chất lỏng hoặc chất rắn. Mô liên kết thường được chia làm 4 loại: (1) máu và 58 bạch huyết (gọi chung là mô mạch) (2) mô liên kết thật (3) mô sụn (4) mô xương. Ba loại sau đôi khi còn được gọi là mô nâng đỡ.
Máu và bạch huyết: là các mô liên kết không điển hình với chất cơ bản lỏng. Mô liên kết thật: thường khác biệt về cấu trúc nhưng chất cơ bản luôn luôn chứa một số sợi. Các sợi nầy gồm 3 loại: + Sợi keo (collagen fiber) : rất phổ biến, được tạo thành bởi nhiều vi sợi collagen là một loại protein chiếm phần lớn lượng protein trong cơ thể động vật. Các sợi nầy rất mềm dẻo nhưng ít đàn hồi.
+ Sợi đàn hồi (elastic fiber) có tính đàn hồi cao, thường mỏng hơn sợi keo, được tạo thành từ protein elastin. + Sợi lưới: phân nhánh và đan xen nhau thành một mạng lưới phức tạp. Chúng rất quan trọng ở những nơi mà mô liên kết tiếp giáp với các mô khác, nhất là ở lớp màng nền giữa biểu mô và mô liên kết. Trong mô liên kết thật có nhiều loại tế bào với chức năng khác nhau: (1).
Nguyên bào sợi (Fibroblast): tạo các protein để thành lập các sợi. Ðại thực bào (Macrophage): là những tế bào có hình dạng không cố định, có khả năng di động, có nhiều ở gần các mạch máu. Chúng có chuyển động kiểu amip và có thể thâu tóm các vi khuẩn, các hồng cầu chết. Tế bào Mast: sản sinh ra Heparin là chất chống đông máu và Histamin làm tăng tính thấm của mao mạch.
Tế bào mỡ: là những tế bào được chuyên hóa cao để dự trữ mỡ. Khi chúng chiếm một số lượng lớn trong mô liên kết, mô được gọi là mô mỡ (adipose tissue). Các loại bạch cầu: giúp cơ thể chống lại sự nhiễm trùng. Một số bạch cầu có thể di chuyển dễ dàng giữa máu hoặc bạch huyết và mô liên kết.
Tất cả các tế bào và các sợi đều được vùi trong một chất nền không định hình (chất nền nầy là một hỗn hợp của nước, protein, carbohydrate, lipid. Liên hệ với chất nền là dịch mô (tissue fluid). Mô liên kết thật: thường được chia thành hai loại: mô liên kết thưa và mô liên kết dầy mặc dù không có sự khác biệt rõ ràng giữa chúng. Mô liên kết thưa: được đặc trưng bởi sự sắp xếp không đều, thưa thớt của các sợi, với một số lượng lớn chất nền và nhiều loại tế bào.
Chúng được phân bố rộng rãi trong cơ thể động vật. Phần lớn bộ khung của các tuyến bạch huyết, tủy 59 xương, gan là mô liên kết thưa. Chúng cũng nâng đỡ, bao phủ và nối liền các thành phần của các mô khác. Thí dụ: chúng liên kết các sợi cơ với nhau, liên kết da với lớp mô phía dưới, hình thành màng bao tim và xoang bụng, màng treo ruột… Mô liên kết dầy: được đặc trưng bởi sự sắp xếp dầy đặc của nhiều sợi, một số lượng nhỏ chất nền và tương đối ít tế bào.
Các sợi có thể sắp xếp không đều thành một mạng lưới (như trong lớp bì của da hoặc lớp màng xương) hoặc được sắp xếp theo một kiểu xác định, thường là một bó sợi song song như gân và dây chằng. Mô sụn: là một dạng chuyên hóa của các mô liên kết sợi, trong chất cơ bản giữa các tế bào thường có các chất dẻo, có ít tế bào. Chúng khác nhau về kết cấu, màu sắc và độ đàn hồi. Chúng có vai trò nâng đỡ.
rong cơ thể người sụn thường có ở những nơi như mũi, thanh quản, khí quản, đĩa gian đốt sống, bể mặt các khớp xương, đầu xương sườn. Phần lớn bộ xương ở giai đoạn phôi của động vật có xương sống đều cấu tạo từ sụn, sau đó xương dần dần phát triển và thay thế chúng.3: Các loại mô liên kết ở động vật Mô xương: xương có một chất nền cứng, chứa nhiều sợi keo và một số lượng lớn nước cũng như các muối vô cơ như carbonate calci, phosphate calci. Các muối vô cơ chiếm khoảng 65% trọng lượng khô của xương trưởng thành. Một ít tế bào xương được phân bố rộng rãi và được định vị ở những khoảng trống trong chất cơ bản.4: Cấu trúc mô xương 1.
Mô cơ: Các tế bào cơ có khả năng co duỗi lớn hơn các tế bào khác trong cơ thể. Chúng chịu trách nhiệm cho phần lớn các chuyển động ở động vật bậc cao. Các tế bào cơ thường kéo dài và nối với nhau thành bó nhờ mô liên kết.5: Các loại mô ở động vật và cấu trúc của mô cơ Ở động vật có xương sống có 3 loại mô cơ: - Cơ xương (còn gọi là cơ vân): có vai trò trong các cử động tùy ý. - Cơ trơn chịu trách nhiệm trong phần lớn các cử động không tùy ý của các nội quan.
- Cơ tim: là thành phần cấu tạo của tim. Mô thần kinh: Nhìn chung, tất cả các chất nguyên sinh đều có tính hưng phấn (khả năng đáp ứng đối với kích thích) nhưng mô thần kinh được chuyên hóa cao cho những đáp ứng như thế. Các tế bào thần kinh dễ dàng thu nhận kích thích và dẫn truyền xung động rất nhanh. Mỗi tế bào có cấu tạo gồm một thân tế bào có chứa nhân và một hoặc nhiều phần kéo dài gọi là các sợi.6: Các loại tế bào thần kinh và cấu trúc của tế bào thần kinh Các tế bào thần kinh đóng vai trò dẫn truyền thông tin trên một khoảng cách dài (một số tế bào thần kinh có thể dài đến 1m hoặc hơn).
Nhiều sợi thần kinh kết hợp với nhau bởi mô liên kết tạo thành dây thần kinh.