mở đầu: TỔNG QUAN REVIT ARCHITECTURE Mục tiêu: - Hiểu được tổng quan về Revit Architecture. - Sử dụng được giao diện phần mềm, các lệnh tắt cơ bản. Nội dung chính: I. CÂU CHUYỆN LỊCH SỬ.
Hãng AUTODESK mang đến cho ngành xây dựng bộ 3 phần mềm AutoDesk Revit Architecture (Kiến trúc), AutoDesk Revit Structure (Kết cấu) và AutoDesk Revit MEP (Cơ điện) hướng đến công nghệ BIM. Như chúng ta đã biết vào khoảng trước những năm 1990, các Kiến trúc sư (KTS) và Kỹ sư (KS) sử dụng công cụ bút chì và thước để thể hiện các bản vẽ. Việc sử dụng bút chì để vẽ không những rất chậm mà còn thiếu chính xác và khó khăn cho quá trình điều chỉnh bản vẽ. Từ những năm 2000 trở lại đây, sự xuất hiện của phần mềm AutoDesk AutoCad giúp các KTS và KS rất nhiều trong việc thiết kế các bản vẽ Xây dựng.
Các ý tưởng được thực hiện nhanh, hiệu quả và chính xác hơn. Tuy nhiên, trong các dự án mà công tác tổ chức, thống kê, kiểm tra,… có khối lượng lớn và có sự điều chỉnh liên tục khi thực hiện dự án thì việc sử dụng phần mềm AutoDesk AutoCad rất khó khăn và đòi hỏi nhiều tài nguyên, nhân lực. Rồi có vẻ như AutoDesk cũng cảm nhận được tình hình “luôn luôn lắng nghe và luôn luôn thấu hiểu”, vì vậy AutoDesk Revit ra đời với 3 hệ cơ bản hướng đến công nghệ BIM (Building Information Modeling): - AutoDesk Revit Architecture (Kiến trúc); - AutoDeskRevit Structure (Kết cấu); - AutoDesk Revit MEP (Cơ điện). Ngày mùng 5 tháng 4 năm 2000, phiên bản Revit 1.0 được chính thức công bố trong ngành công nghiệp AEC bởi tập đoàn Revit Technology Corporation.
Nhận ra sự cạnh tranh và giá trị tiềm năng của phần mềm ứng dụng này, vào đầu năm 2002, hãng Autodesk đã chính thức mua lại tập đoàn Revit Technology Corporation. Sau 2 năm đầu tư nghiên cứu và phát triển, cùng với sự hoàn thiện không ngừng của lý thuyết MÔ HÌNH THÔNG TIN CÔNG TRÌNH (BUILDING 7 INFORMATION MODELING), đến năm 2004, hãng Autodesk đã ra mắt phiên bản Revit Building đầu tiên. Vào khoảng thời gian này, Autodesk chưa tách biệt phần kiến trúc và kết cấu trong ứng dụng hỗ trợ thiết kế Revit, chúng được gọi chung là Revit Building. Đến năm 2006, lần đầu tiên, 3 sản phẩm Revit Architecture, Revit Structure & Revit MEP xuất hiện độc lập trên thị trường.
Tuy nhiên, đến năm 2013, căn cứ trên nhu cầu của khách hàng, ngoài việc phát triển độc lập 03 ứng dụng thiết kế kể trên, hãng Autodesk đã tích hợp chúng lại thành 1 sản phẩm 3 trong 1 và có tên gọi là AutoDesk Revit. Tất cả các phần mềm được thiết kế ra nhằm phục vụ cho một lĩnh vực nào đó cụ thể để hỗ trợ cho con người giảm thiểu thời gian và công sức mà vẫn đạt được hiệu quả mong muốn. Vì vậy đa số trong chúng ta muốn học một phần mềm nào đó thì đều có mục tiêu cụ thể để phục vụ cho công việc của mình được tốt hơn. Theo quan điểm của tác giả, AutoDesk Revit cũng chỉ là một giải pháp được xem là có nhiều ưu điểm vượt trội hiện nay.
Cùng với sợ phát triển nhanh chóng của công nghệ đồ họa trong xây dựng, thì trong tương lai sẽ cho ra đời nhiều sản phẩm mới và có nhiều tính năng mới vượt trội. Tuy nhiên chúng ta cần nhớ rằng, phần mềm cũng chỉ là một công cụ hỗ trợ cho các bạn triển khai ý tưởng một cách nhanh chóng chứ không thể thay thế hoàn ta chúng ta trong việc thiết kế. Kiến thức mà các bạn có để chính là thứ quan trọng nhất và giúp ta làm chủ được bất kì phần mềm nào. CÁC TÍNH NĂNG HỔ TRỢ KIẾN TRÚC VƯỢT TRỘI.
Khái niệm - Revit Architecture là phần mềm thiết kế thể hiện kiến trúc theo khuynh hướng mô hình công trình gán thông tin (BIM). Phần mềm trình bày một thiết kế dưới dạng một loạt các vật thể và những thành phần thông minh, ví dụ: tường, cửa sổ và các góc nhìn… Những vật thể và thành phần này đều có tham số. Thông tin của những vật thể và thành phần này đều được lưu trữ trong một mô hình công trình duy nhất. Bạn có thể trích xuất không hạn chế số lượng góc nhìn từ những dữ liệu của mô hình này.
- Vì sử dụng công nghệ thay đổi tham số, bất kỳ một thay đổi nào do bạn tạo ra sẽ kéo theo những thay đổi ở các mối liên kết tương ứng của toàn bộ dự án một cách tự động và đồng bộ, bao gồm: các góc nhìn, các bản vẽ, bảng thống kê, các mặt cắt và mặt bằng. Đặc điểm - Làm việc theo lối suy nghĩ của kiến trúc sư kỹ sư và nhà thiết kế trong thiết kế công trình : + Tận dụng những quy trình làm việc mang tính trực quan qua những phần mềm có khả năng phản ánh được thế giới thực. + Chứa đựng những thông tin cơ bản của bất kỳ một dự án cần phải có, vì vậy khi bạn thiết kế, phần mềm Revit sẽ tự động tạo lập chính xác các mặt bằng sàn, các mặt đứng, các mặt cắt, các góc nhìn 3D, cũng như các bảng tính toán, các bảng thống kê. + Hiểu biết sâu hơn thiết kế của mình qua quá trình hình dung và phân tích (quá trình làm việc).
- Cải thiện doanh nghiệp thông qua khả năng phối hợp tốt hơn, dự án có chất lượng cao hơn: + Thời gian hoàn thành sản phẩm được rút ngắn. + Giảm thiểu tối đa những lỗi không khớp và những việc phải làm nhiều lần bằng cách quản lý toàn diện các thay đổi của thông số. + Chiếm được ưu thế trong cạnh tranh vì khách hàng ngày càng hài lòng hơn, lợi nhuận ngày càng cao với những hồ sơ thiết kế chất lương hơn. - Tính liên kết hai chiều là khả năng của BIM, được biểu hiện qua việc những thay đổi của các liên kết được thực hiện trong bất kỳ góc nhìn nào sẽ dẫn tới việc thay đổi nội dung thể hiện ở tất cả các góc nhìn còn lại.
Revit đảm bảo các mặt cắt công trình và các mặt đứng luôn được cập nhật một cách chính xác để phù hợp với nhau. Lợi ích của việc sử dụng phần mềm Revit + Nâng cao tính đồng bộ và chính xác của hồ sơ; + Hệ thống ký hiệu được quản lý chặt chẽ và thống nhất; + Rút ngắn thời gian; + Chi phí quản lý thấp; + Phối hợp dễ dàng giữa các phần mềm, các bộ môn. KHÁM PHÁ GIAO DIỆN REVIT ARCHITECTURE. Sau khi khởi động chương trình, giao diện như hình 1.
Các thành phần cấu tạo nên giao diện của Revit Architecture gồm: Menu, Tool Bar, Option Bar, Type Selector, Design bar, Project Browser, Status Bar, View Control Bar và Drawing Area. Dưới đây sẽ khảo sát để biết chức năng tổng quát của từng thành phần 9 Hình III.1: Giao diện của Revit Architecture 10 1. Menu: Hình III.2 : Menu Gồm có 10 cột lệnh, bên trong các cột lệnh chứa các lệnh được ghi bằng chữ. Cấu trúc này tương tự như chương trình Micropsoft Window hay Excel (ví dụ các cột lệnh File, Edit, Window, Help).
Từ các cột lệnh này, người sử dụng có thể truy nhập gần như tòan bộ các lệnh 2. Tool Bar : Hình III.3 : Tool Bar Đây là nơi chứa các nhóm lệnh như là những công cụ thi công trong công trừơng xây dựng. Nếu đã biết qua ACAD hay ADT thì người sử dụng sẽ cảm thấy quen thuộc. Tuy nhiên, so với 2 phần mềm trên thì nhóm Tool Bar này có nội dung họat động phong phú hơn rất nhiều.
Option bar : Hình III.4 : Option Bar Sau khi chọn được lệnh thì đây là nơi chọn các đặc tính của các chi tiết kiến trúc mà ta muốn đưa vào công trình. Type Selector : Hình III.5 : Type Bar Là nơi để chọn sự khác nhau (như kích thuớc, chủng lọai. ) cho mỗi tổ hợp chi tiết kiến trúc (như cửa, tuờng. ) mà người sử dụng muốn đưa vào thiết kế của mình.
Những đặc tính của mỗi tổ hợp như vậy được gọi là Properties. Design Bar: Đây là nơi thứ 3 mà người sử dụng có thể sử dụng để truy nhập gần như các lệnh để chọn lựa các thành phần của một công trình và được phân chia thành 8 nhóm : • Basic • View • Modelling • Draft • Rendering • Site • Massing • Area Analysis • Structure • Construction Các nhóm lệnh thừơng xuyên sử dụng là: Basic và Modelling là 2 nhóm lệnh chủ yếu để thiết kế Vector; View là nhóm lệnh để điều Hình III.6 : Design bar khiển màn hình; Rendering là nhóm lệnh để sản sinh hình Raster; Massing và Area Analysis là 2 nhóm lệnh được dùng nhiều trong giai đọan sơ phác (Concept) 6. Project Browser: Project Browser được tổ chức theo hình thức tầng bậc và là nơi chứa tất cả những thông tin cũng như kết quả làm việc. Sau khi khởi động chương trình, trong Project được mặc định gồm 3 phần : View, Family, Group Trong View được tổ chức, một cách mặc định bởi phần mềm, thành 3 thành phần trong bước khởi đầu gồm : Floor Plans - chứa tất cả các file mặt bằng sàn của công trình, Ceiling Plan - chứa tất cả các file mặt bằng trần của công trình, Elevations - chứa các file mặt đứng Hình III.7 : Project Browser của công trình.
Status Bar: Hình III.8 : Status Bar Các họat động cần thiết trong quá trình làm việc của ngừơi sử dụng được nhắc nhở tại đây. Tương tự như dòng Command Lines của Acad 8. View Control Bar: Hình III.9 : View Control bar 9. Drawing Area: Hình III.10 : Drawing Area Đây là nơi làm việc chủ yếu của người sử dụng.
Tùy thuộc vào sự điều khiển của người sử dụng đối với Project Browser mà khu vực này sẽ có những hình vector như : mặt bằng (trệt, lầu 1, lầu 2 .), mặt đứng, mặt cắt. hoặc raster như : phối cảnh công trình đã được gán vật liệu dưới ánh sáng mặt trời, nội thất công trình với đồ đạc và chiếu sáng nhân tạo. KIỂM SOÁT THỊ KIẾN MÔ HÌNH VÀ LỆNH TẮT. - Khối lập phương quan sát: Viewcube - Vô lăng quan sát: Steeringwheel - Trực quan: Visual Style - Hộp cắt: Section Box 14 - Lệnh tắt: là nhóm lệnh hỗ trợ thị kiến mô hình: • Isolate Category: IC • Hide Category: HC • Unhide Category: VU • Isolate Element: HI • Unhide Element: EU • Reset Temporary Hide/Isolate: HR 15 Bài 1: TƯỜNG KIẾN TRÚC Mục tiêu: - Hiểu được phương pháp thiết kế tường kiến trúc - Thiết kế được Tường kiến trúc - Rèn luyện tính cẩn thận, tỷ mỉ và chính xác.
Nội dung chính: I.