Chương 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ SẢN XUẤT GIỚI THIỆU Quản trị sản xuất (Production management) còn được hiểu dưới tên gọi khác là Quản trị vận hành hay Quản trị tác nghiệp (Operations management) đề cập tới tổ hợp các hoạt động thiết kế, vận hành và cải tiến hệ thống sản xuất của một doanh nghiệp. Đây chính là một khâu quan trọng trong chuỗi hoạt động tạo ra giá trị gia tăng cho doanh nghiệp. Nếu sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp không được làm ra với mức chi phí hợp lý và có chất lượng thì mọi nỗ lực khác của doanh nghiệp (hậu cần, marketing, bán hàng,.) đều khó có thể đạt kết quả mong muốn. Sau khi học tập chương này, người học sẽ: - Hiểu được các khái niệm chính và xác định được các yếu tố cơ bản trong quá trình sản xuất của một doanh nghiệp; - Nhận biết được các mục tiêu chính của quản trị sản xuất và vị trí của sản xuất trong các hoạt động chung của doanh nghiệp; - Nhận thức được sự hình thành và phát triển của lý thuyết quản trị sản xuất; - Xác định được các chủ đề chính của quản trị sản xuất và cũng là các nội dung chính của giáo trình này.
Nội dung của chương được kết cấu thành 03 mục lớn.1 đề cập tới các hiểu biết chung về sản xuất và quản trị sản xuất.2 trình bày lịch sử phát triển của quản trị sản xuất, từ sản xuất thủ công trong quá khứ tới sản xuất tinh gọn trong hiện tại; những đặc điểm của môi trường kinh doanh hiện nay và các xu hướng phát triển của quản trị 1 sản xuất. Cuối cùng, mục 1.3 trình bày 8 nội dung chủ yếu của quản trị sản xuất được trình bày trong cuốn giáo trình này. Khái luận về sản xuất và quản trị sản xuất 1. Sản xuất - chức năng cơ bản của doanh nghiệp 1.
Khái niệm sản xuất Hoạt động sản xuất (production) lúc đầu được hiểu là những hoạt động liên quan tới việc khai thác tài nguyên như khai thác than, đánh bắt cá, trồng trọt,. hoặc là các hoạt động chế biến, chế tạo, lắp ráp,. mà kết quả làm ra là những sản phẩm vật chất cụ thể như xi măng, sắt thép, ti vi, tủ lạnh, ô tô. tuy nhiên, đây là quan niệm không đầy đủ.
Ngày nay, trong một nền kinh tế phát triển, ngành dịch vụ chiếm một vị trí ngày càng quan trọng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh. Đầu ra của các hoạt động sản xuất còn bao gồm cả các dịch vụ. Vì vậy, sản xuất được hiểu là quá trình biến đổi các yếu tố đầu vào thành các sản phẩm, dịch vụ đầu ra nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường (như hình 1.1 dưới đây) Hình 1.1: Quá trình sản xuất 2 Quá trình sản xuất còn được diễn đạt bằng một cụm từ khác là “quá trình vận hành” (operation), biến đổi các yếu tố đầu vào như lao động, máy móc thiết bị, công nghệ, nguyên, nhiên vật liệu,. thành sản phẩm hoặc dịch vụ đầu ra đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Như vậy điều quan trọng nhất của hoạt động sản xuất là biến đổi được các yếu tố rời rạc đầu vào thành kết quả đầu ra có giá trị và giá trị sử dụng. Theo sơ đồ được trình bày trong hình 1.1, có bốn yếu tố cơ bản tham gia vào quá trình sản xuất: yếu tố đầu vào, quá trình biến đổi, yếu tố đầu ra và yếu tố phản hồi. Yếu tố đầu vào (Input) Yếu tố đầu vào là tất cả các yếu tố mà doanh nghiệp sử dụng để chế biến, biến đổi. Đó là tài nguyên thiên nhiên, lao động, vốn, công nghệ, máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu, công cụ dụng cụ,.
chúng là những điều kiện cần thiết cho bất cứ quá trình sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ nào. Tổ chức, khai thác và quản trị tốt các yếu tố đầu vào là một trong những yêu cầu cơ bản của quản trị sản xuất. Quá trình biến đổi (Transformation process) Nội dung công việc chính yếu của quá trình sản xuất là quá trình biến đổi. Đó là quá trình chế biến, chuyển hoá các yếu tố đầu vào thành hàng hoá và dịch vụ mong muốn đầu ra, đáp ứng yêu cầu của thị trường và tạo giá trị gia tăng cho doanh nghiệp.
Kết quả đầu ra của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào quá trình biến đổi này. Đây là hoạt động trọng tâm và là mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản trị sản xuất. Yếu tố đầu ra (Output) Sản phẩm của quá trình sản xuất bao gồm hai loại chính là hàng hóa (goods) và dịch vụ (services). Hàng hóa hay sản phẩm hữu hình là kết quả của quá trình sản xuất thoả mãn nhu cầu của con người và tồn tại dưới dạng vật thể.
Dịch vụ hay sản phẩm vô hình là kết quả của quá trình sản xuất thoả mãn nhu cầu của con người nhưng không tồn tại dưới dạng vật thể. Dưới đây là bảng phân biệt hàng hóa và dịch vụ - hai loại yếu tố đầu ra của quá trình sản xuất. Phân biệt hàng hóa và dịch vụ Chỉ tiêu Hàng hoá Dịch vụ 1. Về hình thái sản phẩm Hữu hình Vô hình 2.
Thời điểm tiêu dùng Tách biệt với sản xuất Gắn liền với sản xuất 3. Thời gian tồn tại Dài Ngắn và nhanh 4. Khả năng dự trữ Có thể dự trữ Không thể dự trữ 5. Sự tham gia của khách hàng Tham gia gián tiếp Tham gia trực tiếp 6.
Đo lường chất lượng Dễ đánh giá dựa Khó lượng hóa vào các tiêu chí định lượng 7. Phạm vi phân phối/bán hàng Phạm vi phân phối rộng, Phạm vi phân phối bị có thể vận chuyển giới hạn về địa lý 8. Đăng ký bằng sáng chế Dễ đăng ký Khó đăng ký Trong thực tế kinh doanh hiện nay, để bán được sản phẩm hàng hóa, doanh nghiệp thường phải cung cấp nhiều dịch vụ đi kèm cho khách hàng. Chẳng hạn, các doanh nghiệp bán hàng điện máy vận chuyển sản phẩm tới tận nhà khách hàng, lắp đặt, hướng dẫn sử dụng; bán hàng trực tuyến trên mạng internet kèm theo dịch vụ chuyển hàng tận nhà, nhận thanh toán tại nhà,.
Như vậy ranh giới giữa sản phẩm và dịch vụ ngày càng không rõ ràng và việc phân biệt sản phẩm và dịch vụ chỉ có tính tương đối. Yếu tố phản hồi (Feedback) Yếu tố phản hồi đề cập tới hệ thống thông tin phản hồi giúp phối hợp và điều chỉnh các yếu tố của quá trình sản xuất. Tùy theo tình hình thực tế của thị trường, các yêu cầu và phản ứng của khách hàng đối với sản phẩm, dịch vụ đầu ra mà doanh nghiệp phải điều chỉnh yếu tố đầu vào và điều chỉnh quá trình biến đổi. Tương tự, quá trình biến đổi có thể 4 đặt ra các yêu cầu điều chỉnh các yếu tố đầu vào.
Ví dụ, nhà hàng sẽ phải điều chỉnh ngay thực phẩm sử dụng, cách chế biến nếu khách hàng phàn nàn về chất lượng món ăn. Một nhà máy lắp đặt hệ thống máy móc công nghệ mới sẽ phải đào tạo lại công nhân vận hành và điều chỉnh việc sử dụng nguyên vật liệu. Các cấp độ sản xuất Theo sự phát triển của trình độ sản xuất được chia thành ba cấp độ: sản xuất bậc 1; sản xuất bậc 2 và sản xuất bậc 3. Sản xuất bậc 1 (sản xuất sơ chế): Là hình thức sản xuất chỉ dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên hoặc tạo ra các nguyên liệu thô như khai thác than, khai thác quặng, khai thác gỗ, đánh bắt hải sản, trồng trọt, chăn nuôi,.
Sản xuất bậc 2 (công nghiệp chế biến): Là hình thức sản xuất, chế tạo, chế biến các loại nguyên liệu thô hay tài nguyên thiên nhiên thành hàng hóa, chẳng hạn quặng mỏ biến thành sắt thép, gỗ chế tạo thành bàn ghế,. sản xuất bậc 2 bao gồm cả việc chế tạo các bộ phận cấu thành được dùng để lắp ráp thành sản phẩm tiêu dùng và sản phẩm công nghiệp. Sản xuất bậc 3 (công nghiệp dịch vụ): Cung cấp hệ thống các sản phẩm và dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu đa dạng của con người. Trong nền sản xuất bậc 3, dịch vụ được sản xuất ra nhiều hơn các hàng hóa hữu hình.
Các nhà sản xuất công nghiệp kết nối với các đối tác trong chuỗi ứng cung cấp sản phẩm dịch vụ trong phạm vi rộng lớn và ngày càng tiện lợi tới khách hàng. Các công ty vận tải chuyên chở sản phẩm của các nhà sản xuất từ nhà máy đến các nhà bán lẻ. Các nhà bán buôn và nhà bán lẻ cung cấp các dịch vụ đến người tiêu dùng cuối cùng. Ngoài ra còn nhiều loại dịch vụ khác như: Bốc dỡ hàng hóa, bưu điện, viễn thông, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, y tế, giáo dục, nhà hàng, khách sạn,.
Khái niệm và mục tiêu của quản trị sản xuất 1. Khái niệm quản trị sản xuất Theo Russell & Taylor (2011), quản trị sản xuất (Operations management) có thể được phát biểu ngắn gọn bao gồm việc thiết kế (design), vận hành (operation) và cải tiến (improvement) hệ thống sản xuất của doanh nghiệp. Nhiệm vụ trọng tâm của quản trị sản xuất là thiết kế và vận hành hệ thống sản xuất nhằm biến đổi đầu vào thành các yếu tố đầu ra, và sau mỗi quá trình biến đổi tạo ra một giá trị lớn hơn giá trị đầu tư ban đầu. Giá trị gia tăng là yếu tố quan trọng nhất, là động cơ hoạt động của các doanh nghiệp và mọi tổ chức cá nhân có liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Giá trị gia tăng là nguồn gốc của sự tăng của cải và mức sống của toàn xã hội; tạo ra nguồn thu nhập cho tất cả các đối tượng có tham gia đóng góp vào hoạt động của doanh nghiệp như chủ sở hữu, cán bộ quản lý, người lao động và là nguồn tái đầu tư sản xuất mở rộng, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển lâu dài của doanh nghiệp. Theo cách tiếp cận chức năng, quản trị sản xuất là quá trình thiết kế, hoạch định, tổ chức điều hành và kiểm soát hệ thống sản xuất nhằm thực hiện những mục tiêu đã xác định. Ở góc nhìn này, quản trị sản xuất trước hết bao gồm việc thiết kế hệ thống sản xuất như thiết kế sản phẩm và dịch vụ; thiết kế quy trình công nghệ chế tạo sản phẩm, xác định và lựa chọn năng lực sản xuất (thiết bị, công nghệ, công suất), thiết kế hệ thống sản xuất về không gian (định vị doanh nghiệp và bố trí mặt bằng sản xuất). Hoạch định sản xuất bao gồm việc dự báo nhu cầu sản phẩm, hoạch định tổng hợp, xây dựng kế hoạch sản xuất, kế hoạch về nguyên vật liệu và các kế hoạch nguồn lực khác.