Chương 1 ĐẠI CƯƠNG VỀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP Doanh nghiệp muốn cạnh tranh thành công thì phải hoạt động hữu hiệu và hiệu quả, điều này tùy thuộc nhiêu vào việc quản trị doanh nghiệp Quản trị doanh nghiệp là một quá trình tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ doanh nghiệp, sử dụng một cách tốt nhất tiềm nâng và cơ hội để thực hiện những hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu đề ra theo đúng luật định và thông lệ xã hội. Nhằm giúp cho người đọc có cách nhìn toàn diện vê quản trị doanh nghiệp, chương này sẽ giới thiệu những vấn đề tổng quát về Doanh nghiệp và quản trị doanh nghiệp và các giai đoạn phát triển của khoa học quản trị doanh nghiệp; những quan điểm tiếp cận và các trường phái ứng dụng trong quản trị Doanh nghiệp. DOANH NGHIỆP LÀ MỘT TỔ CHỨC CHẶT CHẼ 1. Khái niệm tổ chức Tổ chức đi từ đơn giản đến phức tạp, từ những tập thể không chính thức, những nhóm lâm thời, đến những tổ chức có cơ cấu bộ máy quản trị chặt chẽ.
Tổ chức đầu tiên xuất hiện trong quân đội, tôn giáo. Ngày nay, tổ chức xuất hiện trong mọi lĩnh vực xã hội, chính trị, tôn giáo, kinh tế. Xã hội ngày nay được coi là xã hội của các tổ chức và tổ chức là nguồn sức mạnh của xã hội. Vậy, thế nào là một tổ chức? Có nhiều định nghĩa tổ chức khác nhau.
Tuy nhiên, có thể nêu ra một số định nghĩa cơ bản sau đây: - Tổ chức là một nhóm người mà một số hoặc tất cả các hoạt động của họ được phối hợp với nhau. - Tổ chức: Là sự hướng về mục tiêu, trong đó con người có mục đích để theo đuổi. Là con người làm việc chung với nhau trong tập thể. Là hệ thông khoa học kỹ thuật, trong đó con người sử dụng kiến thức và kỹ thuật.
Là sự sắp xếp các hoạt động theo hệ thống cơ cấu, tức là con người cùng nhau làm việc. - Tô chức là sự tập hợp nhiều người cùng tham gia vào một nỗ lực có hệ thống để sản xuất ra hàng hoá hoặc một hành động. - Tổ chức là sự tập hợp nhiều người một cách có hệ thống để hoàn thành những mục tiêu cụ thể. -Tổ chức là một hệ thống các hoạt động hay tác động có ý thức của hai hay nhiều người.
2 Các định nghĩa trên đều nhấn mạnh đến vai trò của mỗi người và sự phối hợp, hợp tác giữa những con người trong tổ chức. Điều đó có nghĩa là tổ chức phải được xem xét trong một hệ thống, tức là xem xét mối liên hệ hữu cơ giữa các yếu tố thành tố, từng bộ phận với hệ thống tổ chức, giữa hệ thống này với hệ thống khác. Các tổ chức trong thực tế chỉ là các hệ thống cục bộ. Mỗi tổ chức là một bộ phận của tổ chức lớn hơn và phức tạp hơn.
Mỗi tổ chức được tạo thành bởi nhiều đơn vị nhỏ khác nhau, mỗi đơn vị tự nó đã là một tổ chức. Hơn nữa, hệ thống (tổ chức) phải được xét như là một tổng thể. Theo nguyên tắc “tính trội” của hệ thống, một tổ chức sẽ tạo ra sức mạnh lớn hơn của tổng số các bộ phân của nó. Vấn đề không phải là hoạt động của các cá nhân và bộ phân mà là của một hệ thống tổ chức nhất định.
Vì vậy, quản trị tổ chức không phải chỉ là công việc của tổ chức mà là công việc chuyên môn nhầm duy trì hoạt động của tổ chức. Ngoài ra, còn một số định nghĩa khác về tổ chức như sau: - Tổ chức bộ máy là thiết kế các bộ phận quản lý, xác định các mối quan hệ về nhiệm vụ và quyền hành giữa các cá nhân và các bộ phận quản lý của tổ chức nhằm thực hiện các mục tiêu của tổ chức. - Tổ chức là sự phối hợp ý chí hành động của một số người nhằm hoàn thành những mục tiêu chung, cụ thể thông qua sự phân chia công việc, nhiệm vụ vầ cấp bậc quản trị. Vậy, có thể nêu khái niệm tổng quát về tổ chức như sau: Tổ chức là một tập hợp nhiều người mang tính chất tự giác có ý thức về vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn nhằm thực hiện mục tiêu chung cụ thể.
Từ khái niệm này có thể thấy tổ chức là một phạm trù rộng, bao gồm cả trường học, bệnh viện, tiệm ãn, khách sạn, doanh nghiệp. Tóm lại, có nhiều định nghĩa khác nhau về tổ chức, nhưng chung quy lại có thể nêu lên đặc điểm chung của tổ chức như sau: - Một tổ chức phải có nhiều người; - Những người tham gia vào tổ chức với ý thức đầy đủ về vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cá nhân và cả tập thể; - Cùng thực hiện những mục tiêu chung, cụ thể; Trên cơ sở định nghĩa tổ chức, có thể định nghĩa quản trị tổ chức như sau: Quản trị tổ chức là quán trị những hoạt động phát sinh từ sự tập hợp tự giác của một nhóm người một cách có ỷ thức nhằm hoàn thành mục tiêu chung cụ thể. Như vậy, tổ chức là một thực thể tồn tại có mục tiêu riêng phải hoàn thành, có đời sống và hoạt đông riêng của nó để có thể tồn tại và phát triển. 3 Quản trị tổ chức là sự duy trì và thúc đẩy hoạt động của tổ chức nhằm bảo đảm sự tồn tại và vận hành của tổ chức đó hướng vào thực hiện mục tiêu.
Quản trị tổ chức là sự chỉ huy theo một nghĩa hẹp. Một dàn nhạc là một tổ chức. Nhưng dàn nhạc không chơi được và cũng không tồn tại được nếu không có người chỉ huy. Chỉ huy và tổ chức là hai phạm trù khác nhau, nhưng không tách rời nhau, chúng gắn chặt với nhau, đó cũng chính là đối tượng nghiên cứu của quản trị tổ chức.
Doanh nghiệp cũng là một tổ chức, nó cần được quản trị. Quản trị doanh nghiệp là một quá trình tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ doanh nghiệp làm tập thể những người lao động trong doanh nghiệp, sử dụng một cách tốt nhất những tiềm năng và cơ hội để tiến hành hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu đề ra theo đúng luật định và thông lệ xã hội. Xét về mặt tổ chức và kỹ thuật của hoạt động quản trị, thì quản trị doanh nghiệp chính là sự kết hợp mọi nỗ lực của con người trong doanh nghiệp để đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp và mục tiêu riêng của mỗi người một cách hợp lý và có hiệu quả nhất. Đó là quá trình hợp tác và phối hợp công việc giữa các quản trị viên trong bộ máy quản trị với công nhân trong quá trình làm việc và thông qua họ để thực hiện mục tiêu của các doanh nghiệp trong môi trường luồn luôn biến động.
Có thể nói, thực chất của quản trị doanh nghiệp là quản trị con người trong quá trình sản xuất kinh doanh. Nói đến quản trị doanh nghiệp thường bao gồm: - Chủ thể quản trị: là chủ doanh nghiệp và đội ngũ quản trị viên trong bộ máy quản trị doanh nghiệp. - Đối tượng bị quản trị: gồm những người lao động với phương hướng tác động quản trị thông qua các chức năng về lĩnh vực quản trị, hệ thống thông tin và quyết định của quản trị. - Mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp Xét về kinh tế - xã hội, thì lý do tồn tại của doanh nghiệp, mục đích hoạt động của doanh nghiệp là do chủ doanh nghiệp đề ra.
Hoạt động quản trị doanh nghiệp là nhằm thực hiện mục tiêu lợi ích của doanh nghiệp, đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển lâu dài, bảo toàn và phát triển vốn để đáp ứng được mong muốn của chủ sở hữu và mọi thành viên trong doanh nghiệp. Quản trị doanh nghiệp chính là nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cao hơn. Các nguyên tắc của tổ chức a) Thống nhất mục đích của tổ chức Một mục đích chỉ tập hợp được sự hợp tác khi những người tham gia hiểu được bản chất và mối quan hệ mật thiết của mục đích đó như là đối tượng của sự hợp tác. Nói cách khác, khi các cá nhân phải cảm nhân được mục đích của tổ chức là của chung, tất cả 4 các thành viên mới có được sự “đồng lòng hợp tác” nếu có những khác biệt cơ bản và nghiêm trọng giữa mục đích cá nhân và tập thể thì sẽ có sự ly tán, phân tâm.
Mục đích tổ chức và động cơ cá nhân. Mỗi người tham gia vào bất kỳ tổ chức nào đều có tư cách tổ chức và tư cách cá nhân. Cần phải phân biệt rõ ràng giữa mục đích tổ chức và động cơ cá nhân, vì cả hai tất yếu không phải là đồng nhất. Chúng chỉ đồng nhất khi đạt được mục đích và tổ chức tự nó trở thành nguồn gốc của sự thỏa mãn cá nhân.
Động cơ cá nhân là cái nội tại, là chủ quan; còn mục đích chung là cái bên ngoài, không thuộc cá nhân và là cái khách quan. Do đó, người chỉ huy phải làm cho các thành viên thấm nhuần mục đích chung của tổ chức. Mặc dù vậy, những mục đích của tổ chức và động cơ cá nhân vẫn rất khác biệt. Mọi người tham gia vào việc thực hiện mục đích chung vì họ cảm thấy những thoả mãn cá nhân của họ sẽ có được từ việc đạt mục đích của tổ chức.
Trong một tổ chức, các giá trị tổ chức là những giá trị quan trọng nhất, nhờ những giá trị này mà cá nhân sẽ hành động theo mệnh lệnh. Nhưng là một cá thể có những lợi ích và động cơ riêng, cá nhân chỉ thực hiện các mục tiêu của tổ chức trong một pham vi chấp nhận, trong đó cá nhân ứng xử “có tổ chức”. Phạm vi chấp nhận là một phạm vi khi các mệnh lệnh, quyết định của tổ chức hoà hợp hoặc không xung đột với lợi ích cá nhân sẽ tự xác định xem nên va chạm hay bỏ qua các mục tiêu của tổ chức. b) Bộ máy tổ chức phải gắn với mục tiêu và phục vụ triệt đê cho thực hiện mục tiêu.
Nguyên tắc này khẳng định, bao giờ bộ máy tổ chức cũng phải phù hợp với mục tiêu, từ mục tiêu mà đặt ra cấu trúc bộ máy như sau: - Cấu trúc các thành phần bộ máy; - Cấu trúc các vận hành; - Cấu trúc con người chỉ huy, phối hợp, xác định động lực thúc đẩy. c) Hiệu quả Bộ máy tổ chức phải được xây dựng trên nguyên tắc chuyên, tinh, gọn, nhẹ và giảm thiểu mọi chi phí.