chương I đến chương V). Nội dung biên soạn theo hình thức tích hợp giữa lý thuyết và thực hành. Trong quá trình biên soạn, nhóm tác giả đã tham khảo nhiều tài liệu liên quan của các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề và cập nhật những kiến thức mới nhất. Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng không tránh khỏi những thiếu sót.
Nhóm tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và các bạn học sinh, sinh viên cùng đông đảo bạn đọc để giáo trình ngày càng hoàn thiện hơn. Xin trân trọng cảm ơn! NHÓM TÁC GIÁ Chuong | DOANH NGHIEP VÀ Tổ CHỨC BỘ MÁY QUẦN TRI DOANH NGHIEP 1. Ban chat hoat déng kinh doanh Kinh doanh 14 mét hé thong sản xuất hàng hoá và dịch vụ để thoả mãn các nhu cầu của xã hội. Theo cách hiểu định nghĩa mang tính hệ thống này, chúng ta có thể thay mối liên hệ chặt chẽ giữa doanh nghiệp với các tổ chức khác trong xã hội.
Mỗi hoạt động được thực hiện trong doanh nghiệp đều ảnh hưởng đến hệ thống xã hội lớn hơn, hệ thống kinh doanh liên quan đến hệ thống chính trị, hệ thống kinh tế và hệ thống luật pháp. Bản thân kinh doanh có thể được coi như một hệ thống tổng thể bao gồm những hệ thống cấp dưới nhỏ hơn là các ngành kinh doanh, mỗi ngành kinh doanh được tạo thành bởi nhiều công ty có quy mô khác nhau, sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau. Mỗi công ty lại bao gồm nhiều hệ thống cấp thấp hơn như sản xuất, marketing và tài chính. Về cơ bản, một hệ thống kinh doanh nhận được các yếu tốnhập lượng từ môi trường, nó chế biến cáo yếu tố này sau đó sản xuất ra các xuất lượng cho hệ thống xã hội.
Quá trình này có thể tóm tắt qua sơ đổ: Doanh nghiệp Doanh nghiệp chế Doanh nghiệp sản nhận các nhập biến các nhập tượng xuất ra hàng hoá và lượng và hoat bằng phương pháp dịch vụ để thoả mãn động trong môi hiệu quả nhất, bằng các nhu cầu, đồng trường tự nhiên, cách kết hợp các thời cũng tạo ra các luật pháp, chính nguồn lực, khuyến lợi ích kinh tế, xã trị, -kinh tế, kỹ > khich người lao động hội, nâng Cao mức thuật và các áp và áp dụng các kỹ sống của xã hội lực xã hội Thuật hợp lý 1. Vai trò của hoạt động hùnh doanh 1. Khái niệm - Kinh doanh là một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm (hàng hoá - dịch vụ) trên thị trường nhằm mục đích thu lợi nhuận. - Kinh doanh, hiểu theo nghĩa rộng nhất là một thuật ngữ chung để chỉ tất cả những tổ chức và hoạt động sản xuất ra hàng hoá hay dịch vụ cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người.
Vai trò Hầu hết chúng ta đều có một vai trò nhất định trong hệ thống kinh doanh của đất nước như họ hàng và bạn bè chúng ta cũng làm việc trong các doanh nghiệp; chúng ta mua hàng hoá trong cửa hàng thực phẩm gần nhà, trong các siêu thị hay cửa hàng bách hoá tổng hợp; ăn uống tại các quán hàng lưu động, trong các căng tin hay nha hang chung ta đi lại bằng xe buýt, xe đạp, xe taxi các công ty dịch vụ công cộng cung cấp điện, nước.; chúng ta gửi thư qua bưu điện và trò chuyện với bạn bè bằng điện thoại, gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng sản phẩm của các nhà xuất bản là các loại sách, báo, tạp chí. được đưa đến tay người đọc qua hệ thống các cửa hàng bán lẻ của nó. Vì vậy, kinh doanh là một phần cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Mỗi người nên có những kiến thức nhất định về kinh doanh và cũng cần hiểu vai trò quan trọng của nó đối với cuộc sống con người.
Kinh doanh, hiểu theo nghĩa rộng nhất là một thuật ngữ chung để chỉ tất cả những tổ chức và hoạt động sản xuất ra hàng hoá hay dịch vụ cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người. Chúng ta có thể nâng cao mức sống của mọi người thông qua các tổ chức giáo dục, các tổ chức xã hội và các tổ chức kinh tế. Các tổ chức kỉnh doanh khác với các tổ chức khác ở chỗ chúng sản xuất hàng hoá, cung cấp các loại dịch vụ với mục đích thu được lợi nhuận nhằm mở rộng hơn nữa hoạt động sản xuất, kinh doanh. Để đạt được mục đích này, các doanh nghiệp phải sản xuất ra những loại hàng hoá, dịch vụ mà khách hàng cần, nếu không thoả mãn những mong muốn đó của khách hàng, doanh nghiệp sẽ bị phá sản.
Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp bảo đảm cho hàng hoá được bán với giá phải chăng và có chất lượng thích hợp. Một doanh nghiệp thành công phải luôn phát hiện được những nhu cầu mới của người tiêu dùng và luôn luôn sẵn sàng thoả mãn các nhu cầu đó. Khách hàng là thượng đế và có quyển quyết định mua hàng, mua với số lượng bao nhiêu và VỚI giá nào. Dưới áp lực của cạnh tranh và sức mua của người tiêu dùng, các nhà sản xuất sẽ cố gắng sử dụng có hiệu quả hơn nguyên liệu, thiết bị và lao động để tạo ra nhiều hàng hoá hơn, có chất lượng tốt hơn.
Do đó, khi theo đuổi những quyền lợi riêng, tất yếu doanh nghiệp sẽ tạo ra lợi ích cho xã hội, bởi các doanh nhân sẽ phải thoả mãn các nhu cầu của xã hội khi cố gắng thoả mãn các ham muốn của họ. Trong lúc theo đuổi lợi nhuận để làm giàu, nhà kinh đoanh cũng phải phục vụ người tiêu dùng và phục vụ lợi ích xã hội. Để đạt được mục đích này các DN phải sản xuất ra những loại hàng hoá, dịch vụ mà khách hàng cần. Một DN thành công phải luôn phát hiện những nhu cầu mới của người tiêu dùng và luôn sẵn sàng thoả mãn các nhu cầu đó.
Quan niệm này là nền tảng của nền kinh tế thị trường. VD: Công ty Viễn thông quân đội là doanh nghiệp thành công và làm thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng, chất lượng dịch vụ tốt, giá thành rẻ. Từ chỗ là DN đi sau trong lĩnh vực viễn thông đã trở thành DN hàng đầu. Bản chất của hệ thống binh doanh Như đã mô tả ở phần trước, kinh doanh là một hệ thống sản xuất hàng hoá và dịch vụ để thoả mãn các nhu cầu của xã hội.
Theo cách hiểu định nghĩa mang tính hệ thống này, chúng ta có thể thấy mối liên hệ chặt chế giữa doanh nghiệp với các tổ chức khác trong xã hội. Mỗi hoạt động được thực hiện trong doanh nghiệp đều ảnh hưởng đến hệ thống xã hội lớn hơn như: hệ thống kinh doanh liên quan đến hệ thống chính trị, hệ thống kinh tế và hệ thống luật pháp. Bản thân kinh doanh có thể được coi như một hệ thống tổng thể gồm những hệ thống cấp dưới nhỏ hơn là các ngành kinh doanh, mỗi ngành kinh doanh được tạo thành bởi nhiều công ty có quy mô khác nhau, sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau. Mỗi công ty lại bao gồm nhiều hệ thống cấp thấp hơn như sản xuất, marketing, tài chính, nhân sự.
Tuy nhiên, về cơ bản một hệ thống kinh doanh nhận được các yếu tố nhập lượng từ môi trường, nó chế biến các yếu tố này sau đó sản xuất ra các xuất lượng cho hệ thống xã hội. Quá trình này có thể tóm tắt trong sơ đồ sau: Đoanh nghiệp là một tổ chức chặt chế mang tính hệ thống rõ rệt ‡ Môi trường kinh doanh (KT, CT, XH, TN, KHKT, PL.) 4 Ỷ + Đầu vào Quá trình Đầu ra - Vốn - - Tổ chức sản - Sản phẩm hàng - Nhân lực xuất, Chế biến hóa - Khoa học, kỹ - Quản lý điều - Dịch vụ thuật —>Í hành Doanh —>|- Tiêu thụ - Máy móc thiết bị nghiệp biến đổi - Lợi nhuận - Nguyên vật liệu các nhập lượng (tổ - Đất đai chức sản xuất. - Doanh nghiệp tiếp nhận các nhập lượng và hoạt động trong những điều kiện đặc thù tuỳ theo loại hình kinh doanh. - Doanh nghiệp sử dụng các nhập lượng theo cách thức hiệu quả nhất.
- Doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm dịch vụ để thoả mãn nhu cầu của xã hội. Tóm lại, bản chất hoạt động kinh doanh là tạo ra giá trị cho cộng đồng, cụ thể là cho khách hàng. Giá trị được tạo ra càng lớn thì phần thưởng đợi nhuận, uy tín, sự trung thành của khách hàng, nguồn lực.) mà DN nhận được từ khách hàng càng lớn. Sự cần thiết của hoạt động hinh doanh 1.
Hoạt động kinh doanh nhằm thoả mãn các nhụ cầu của con người Thế giới của chúng ta có hàng triệu người sống trong nhiều quốc gia khác nhau, nói những ngôn ngữ khác nhau và thuộc các chủng tộc khác nhau. Dù vậy, con người có chung một nhu cầu cơ bản, ai cũng cần thức ăn để thoả mãn khi đói, thức uống để làm hết cơn khát và quần áo để giữ ấm cơ thể. Con người cũng cần phải có nhà cửa để nghỉ ngơi, thuốc men và những chăm sóc đặc biệt khi ốm đau. Với nhiều lý do khác nhau con người cần đi từ nơi này đến nơi khác, và khi cách xa họ cần liên lạc với nhau.
Trong giờ rảnh rỗi, họ muốn được thư giãn, nghe nhạc xem tì vi hay đi dạo trong công viên. Giúp con người tìm ra phương thúc tôn tại uà phát triển trong xã hột Trong đời sống xã hội, có rất nhiều phương pháp để thoả mãn các nhu cầu của con người và mỗi người thường biết cách sử dụng những phương pháp thích hợp để thoả mãn nhu cầu cá nhân. Một số người dùng gạo làm thực phẩm chính để thoả mãn khi đói, người khác lại dùng lúa mỳ. Những người dân trên đảo biết cách di chuyển bằng thuyền và dân cư miền sa mạc thì biết cưỡi ngựa hoặc lạc đà.
Các nhà buôn bán phải biết cách mang những hàng hoá từ nơi dư thừa đến nơi cần chúng. Con người luôn cảm thấy cần phải trao đổi những thứ dư thừa lấy những gì họ thiếu và đó là cd sd cho sự trao đối hiện vật ra đời. Khi thương mại phát triển, kim loại quý như vàng, bạc được sử dụng làm vật trung gian trao đổi để thuận tiện cho việc mua bán. Những cuộc khai quật các di chỉ khảo cổ đã khám phá ra rằng, các hoạt động thương mại đã có từ hàng ngàn năm trước đây, trong các thành phố cổ như Babylon, Ai Cập, Trung Quốc, các thương nhân đã buôn bán len, dạ, để gia vị, da sống, lúa gạo và công cụ thô sơ.