mở đầu: Giới thiệu mô đun Bài 1: Nhện hại cây trồng và biện pháp phòng chống Bài 2: Chuột và biện pháp phòng chống Bài 3: Ốc bươu vàng và biện pháp phòng chống Câu hỏi ôn tập: Câu 1: Trong nông nghiệp có những động vật gây hại nào? Câu 2: Trình bày những thiệt hại kinh tế do động vật gây hại gây ra? 3 Bài 1 NHỆN HẠI CÂY TRỒNG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG Mục tiêu của bài Sau khi học xong bài này người học trình bày được khái niệm và đặc điểm nhện hại. Có kỹ năng quan sát, nhận dạng và phương hướng trong phòng chống nhện hại. Nội dung bài: 1. Vai trò và vị trí phân loại của nhện hại cây 1.
Vị trí phân loại Lớp Nhện (Arachnida) với khoảng 35.000 loài được chia thành 7 bộ: Bộ Bò cạp Scorpionida Bộ Nhện lông Solpugida Bộ Bò cạp giả Pseudoscorpiones Bộ Đuôi roi Pedipalpi hoặc Uropigi Bộ Chân dài Phalangidea hoặc Opiliones Bộ Nhện lớn Araneida Bộ Ve bét Acarina Nhện nhỏ nằm trong bộ Ve bét (Acarina), bộ lớn nhất của lớp Nhện và là một trong 3 bộ có ý nghĩa quan trọng nhất đối với con người. Đại đa số ve bét sống trên cạn, một số ít sống dưới nước (Hydracarina). Chúng là một trong rất ít nhóm động vật mà giữa chúng có sự khác biệt lớn về kích thước, phương thức sinh sống và nơi cư trú. Lịch sử nghiên cứu Thuật ngữ “Acari” (Ve bét) được ghi nhận vào những năm 1650.
Nhưng bệnh “sốt do ve” đã được chép trên giấy cỏ ở Ả rập vào năm 1550 trước Công 4 nguyên. Có thể nói đây là tài liệu đầu tiên ghi nhận sự hiểu biết của con người về ve bét. Sau đó Hommer đề cập đến sự xuất hiện của ve trên chó vào năm 850 trước Công nguyên và 500 năm sau, học giả Aristote mô tả về một loài ve ký sinh trên châu chấu. Ngoài ra, những hiểu biết tương tự còn thấy trong các tài liệu ghi chép của Hypocrates, Plutarch.
Cho mãi tới những năm 1660 ve bét vẫn được coi là “chấy rận” hay côn trùng nhỏ. Người đầu tiên đặt tên khoa học Acarus cho ve bét là Linnaeus vào năm 1735. Trong cuốn “Hệ thống tự nhiên” lần thứ nhất Linnaeus đã đặt tên chính xác cho loài Acarus siro và mãi sau này trong lần tái bản thứ 10 tập sách đó, tác giả đã định tên cho 29 loài ve bét gộp trong 1 giống Acarus (Barker & Whartson, 1952; Krantz, 1978). Sau đó gần 2 thế kỷ các nhà tự nhiên học và phân loại học như Lattreille, Leach, Duges, de Geer, Koch (thế kỷ XIX); Kramer, Megnin, Canestrini, Michael, Berlese, Reuter, Vitzthum và Oudemans (cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX) đã có rất nhiều cống hiến nhằm hệ thống hoá một cách chi tiết về ve bét.
Các nghiên cứu chủ yếu là về đặc tính sinh học phát triển của những loài ve bét có ý nghĩa kinh tế xã hội đối với con người. Tuy vậy đại đa số các công trình này đều tập trung vào định loại và nghiên cứu cơ bản.000 loài ve bét được mô tả trong tổng số ước tính hơn nửa triệu loài trên hành tinh (Krantz, 1978). Trước đây, do thiếu hiểu biết về phương thức sinh sống và nơi ở của nhóm ve bét người ta cho rằng chúng là nhóm ký sinh, bằng chứng là nhiều loài được tìm thấy trên cơ thể động vật lớn, chim, thú và trên thực vật. Những nghiên cứu mới đây chỉ ra rằng đất mới là nơi trú ngụ phong phú của ve bét.
Nghiên cứu về ve bét hại cây (mà mới đây thường dùng thuật ngữ nhện nhỏ hoặc nhện hại cây) mới chỉ được tập trung mạnh vào nửa sau của thế kỷ XX. Những công trình nghiên cứu đáng kể tập trung vào phân loại gồm có "Giới thiệu về nhện nhỏ" của Baker và Whartson (1952), "Hướng dẫn về các họ nhện nhỏ" của Baker và ctv. (1958), "Ve bét sống trên cạn tại các đảo thuộc Liên hiệp Anh" 5 của Evan và ctv. Những công trình này tập trung giới thiệu về hệ thống phân loại, mô tả đặc điểm hình thái, đặc điểm phân loại của các nhóm, các họ, các giống tại một số vùng trên thế giới.
Một số công trình không chỉ đề cập tới phân loại mà còn đề cập tới tác hại và các khả năng phòng trừ nhện nhỏ hại cây, nổi bật hơn cả là cuốn "Nhện nhỏ hại cây trồng kinh tế" của Jeppson và ctv. (1975) và cuốn ”Nhện đỏ chăng tơ, đặc điểm sinh học và phòng chống” do Helle và Sabelis (1985) làm chủ biên. Nhóm nhện nhỏ hại cây trồng chủ yếu thuộc vào 2 tổng họ: Nhện chăng tơ Tetranychoidea và Nhện U sần (Eriophyoidea). Các công trình phân loại nhóm Tetranychid đã được Ewing (1913), McGregor (1950), Prichard và Baker (1955), Jeppson và ctv.
(1975) tổng hợp và chỉnh lý. Công trình khá hoàn chỉnh về họ Tenuipalpidae đã được Meyer (1979) biên soạn. Công trình của Jeppson và ctv. (1975) đã phân loại tới các giống của nhóm Eriophid.
Rất nhiều công trình nghiên cứu về tập tính gây hại của những loài nhện hại có ý nghĩa kinh tế cũng như khả năng phòng chống chúng trong sản xuất nông nghiệp thường tập trung ở các nước phát triển như Pháp, Mỹ, Hà Lan, Nhật Bản. Trong vùng Đông Nam Á, nghiên cứu về nhện nhỏ hại chưa nhiều. Baker (1975) ghi nhận có 90 loài nhện chăng tơ ở Nhật Bản và Thái Lan. Tại Việt Nam các loài thường gặp trên cây trồng là 19 loài (Nguyễn Văn Đĩnh, 1994).
Đã có một số nghiên cứu khá chi tiết về đặc điểm sinh học gây hại và biện pháp phòng chống nhện nhỏ hại chè của Nguyễn Văn Đĩnh (1994) và Nguyễn Thái Thắng (2001), nhện nhỏ hại cây ăn quả (Nguyễn Văn Đĩnh, 1992 và 1994; Nguyễn Thị Phương, 1997; Nguyễn Thị Bình, 2002; Trần Xuân Dũng, 2003). Chuyên khảo về nhện nhỏ hại và biện pháp phòng chống đã nêu tóm lược về các loài nhện nhỏ hại quan trọng cũng như biện pháp phòng chống chúng ở Việt Nam (Nguyễn Văn Đĩnh, 2002). Tầm quan trọng của nhện hại cây trồng 6 Cho tới những năm cuối của thế kỷ XX, nhện nhỏ hại cây và côn trùng được xác định là 2 nhóm đối tượng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp. Ở nước ta, trong hai mươi năm trở lại đây, rất nhiều loại cây trồng bị nhện nhỏ hay còn gọi là bét hại cây (Phytophagous mite) gây hại khá nặng.
Đặc biệt là các loại cây trồng được thâm canh cao như bông, chè, cam, chanh, quýt, bưởi, nhãn, vải, đậu đỗ, cà chua, khoai tây, thược dược, hoa hồng và nhiều loài cây làm thuốc, cây cảnh. Nhện nhỏ làm cho cây còi cọc, điểm sinh trưởng bị chết, lá, hoa và quả bị rụng làm giảm đáng kể năng suất, đặc biệt là chất lượng và giá trị hàng hoá của sản phẩm. Tuy nhiên trong sản xuất, người ta thường chỉ phát hiện được triệu chứng gây hại của nhện nhỏ khi đã muộn, lúc quả đã rụng hoặc đã bị ”rám”, điểm sinh trưởng hoặc lá bị “cháy đen” hoặc ”đốm bạc”. Theo thống kê tại một số nước, thiệt hại do nhện phá trên cây táo có thể lên tới 50 - 60%, lê 90%, dâu tây 40 - 70%,.
Ví dụ như đối với cây tre, một loại cây trồng lâm nghiệp chính tại tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc, trong các năm 1997 - 2000, 2 loài nhện hại đã làm giảm sản lượng măng 20 - 40% hoặc nhiều hơn, làm cho nhiều rừng tre, trúc bị “cháy” phải huỷ bỏ (Yan và Zhi. Một ví dụ khác nữa là loài nhện xanh Mononychus tanajoa hại sắn, cùng với rệp sáp, trong những năm 1980 ở châu Phi đã gây nên thiệt hại hàng năm khoảng 1,8 tỷ đô la Mỹ. Ngoài tác hại trực tiếp, một số loài nhện nhỏ hại còn truyền các bệnh virus nguy hiểm cho cây. Không chỉ có vậy, nhện nhỏ còn tấn công gây hại mạnh và giảm chất lượng sản phẩm nông sản sau thu hoạch và chế biến.
Đặc điểm hình thái cấu tạo 2. Cấu tạo chung bên ngoài, bên trong Đặc điểm hình thái của lớp Nhện (Arachnida) 7 Hình 1. Đặc điểm cấu tạo của lớp nhện ( theo Nguyễn Văn Đỉnh) Lớp Nhện bao gồm các loài động vật có cơ thể chia làm 2 phần là đầu - ngực (cephalothorax) và bụng (abdomen), có 4 đôi chân nhưng không có râu. Lớp Nhện chỉ có mắt đơn.
Phần thứ nhất của cơ thể gồm 6 đôi chi phụ: 2 đôi hàm và 4 đôi chân. Đôi hàm I - Hàm dưới (mandibles) và đôi hàm II - Hàm trên (maxillae). Hàm dưới (mandibles) hay còn gọi là kìm (chelicarae) nằm ở phía trên, trước miệng và bao gồm 2 hoặc 3 đốt. Chức năng của nó là bắt giữ và thường để giết con mồi.
Hàm trên (maxillae) nằm ở phía sau hàm dưới, mỗi bên 1 chiếc. Mỗi hàm trên có 1 xúc biện (palpus) lớn. Xúc biện có thể có hình dạng rất khác nhau, nhiều khi có cấu tạo giống như chân còn gọi là chân xúc giác (Thái Trần Bái, 2001), vì thế nhiều loài nhện được coi là có 5 đôi chân. Thông thường chân xúc giác rất phát triển, đặc biệt là đốt thứ nhất.
Nhện thở bằng hệ thống ống khí quản và thở bằng túi phổi. Tận cùng bên ngoài khí quản là các lỗ thở thường nằm ở phía dưới bụng. Đặc điểm cấu tạo ngoài và sự sắp xếp cấu tạo lông của Nhện đỏ ( theo Nguyễn Văn Đỉnh) 2. Cấu tạo chi tiết các phần đầu giả Đầu giả (gnathosoma) chỉ có phụ miệng.
Phía bên trong đầu giả rất đơn giản, chỉ gồm có một ống mà qua đó thức ăn được chuyển qua. Não nằm ở phía sau gnathosoma tức là trong phần thân idiosoma, mắt ở trên mặt lưng hoặc mặt bên của lưng, trong phần thân; trước (propodosoma). Cấu tạo đầu giả (gnathosoma) của nhện chăng tơ ( Theo Nguyễn Văn Đỉnh) (1, 2) Stylophore và kìm của Lindquístiella sp., (1) Mặt lưng, với ngòi châm phóng to, (2) Mặt bụng; infracapitulum và chân xúc giác của Tetranychus sp., mặt bụng bên trái; (4) Mặt bụng của infracapitulum; 7) Chân xúc giác, mặt dưới nhìn nghiêng, (8) Chân xúc giác nhìn từ trên Ch l: gốc kìm; f ch: bao cố định (Helle & Sabelis, 1985) Kìm: Phía trên miệng là đôi kìm có 3 đốt. Đôi kìm kéo dài cùng với đôi chân xúc giác.
Chúng là những cơ quan tìm kiếm và thu lượm thức ăn. Cấu tạo hình dáng của kìm có nhiều biến đổi nhưng kìm không bao giờ là cơ quan cảm giác. Gốc của đốt kìm thứ 3 thường biến đổi tạo thành dạng linh hoạt cử động được như một ngón đính vào cuối đốt 2. Những đốt hay kìm này có răng để ôm ghì vật mồi hoặc cắn xé và nghiền thức ăn.
Đối với nhóm ký sinh, những chiếc kìm này thon mỏng, kéo dài hơn và nhọn sắc hơn.