Giáo Trình Quản Lý Động Vật Hại Cây Trồng và Nông Sản

Giáo trình về động vật hại cây trồng và nông sản nghề trồng trọt và bảo vệ thực vật trung cấp, biên soạn theo chương trình đào tạo chuẩn, hệ thống hóa kiến thức từ cơ bản đến nâng

Trường đại học

Trường Trung Cấp Trường Sơn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo Trình

2022

95
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Giáo Trình Quản Lý Động Vật Hại Cây Trồng

Giáo trình Quản lý động vật hại cây trồng và nông sản là tài liệu quan trọng trong đào tạo ngành Trồng trọt và Bảo vệ thực vật. Tài liệu này cung cấp kiến thức cơ bản về các loại động vật gây hại, thiệt hại kinh tế mà chúng gây ra, và các biện pháp phòng ngừa hiệu quả. Việc hiểu rõ nội dung giáo trình giúp sinh viên nắm bắt được các khái niệm và ứng dụng thực tiễn trong quản lý động vật hại.

1.1. Khái niệm về động vật hại trong nông nghiệp

Động vật hại trong nông nghiệp bao gồm nhiều nhóm như côn trùng, nhện, chuột và ốc. Những loài này gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho cây trồng và nông sản, ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sản phẩm.

1.2. Tầm quan trọng của giáo trình trong đào tạo

Giáo trình này không chỉ cung cấp kiến thức lý thuyết mà còn hướng dẫn thực hành, giúp sinh viên phát triển kỹ năng cần thiết trong việc nhận diện và quản lý động vật hại.

II. Vấn đề và thách thức trong quản lý động vật hại

Quản lý động vật hại cây trồng và nông sản đối mặt với nhiều thách thức như sự gia tăng số lượng động vật hại, sự kháng thuốc của chúng và biến đổi khí hậu. Những vấn đề này đòi hỏi các biện pháp quản lý hiệu quả và bền vững.

2.1. Sự gia tăng số lượng động vật hại

Sự gia tăng số lượng động vật hại như nhện, chuột và ốc bươu vàng đang trở thành mối đe dọa lớn đối với sản xuất nông nghiệp. Các yếu tố như biến đổi khí hậu và thay đổi canh tác góp phần làm gia tăng tình trạng này.

2.2. Kháng thuốc và biện pháp phòng ngừa

Nhiều loài động vật hại đã phát triển khả năng kháng thuốc, làm giảm hiệu quả của các biện pháp hóa học. Do đó, cần áp dụng các biện pháp phòng ngừa tích cực và bền vững hơn.

III. Phương pháp quản lý động vật hại hiệu quả

Để quản lý động vật hại hiệu quả, cần áp dụng các phương pháp tích hợp, bao gồm biện pháp sinh học, hóa học và canh tác. Việc kết hợp các phương pháp này giúp giảm thiểu thiệt hại và bảo vệ môi trường.

3.1. Biện pháp sinh học trong quản lý

Sử dụng thiên địch và các loài tự nhiên để kiểm soát động vật hại là một trong những biện pháp sinh học hiệu quả. Điều này không chỉ giúp giảm thiệt hại mà còn bảo vệ hệ sinh thái.

3.2. Sử dụng thuốc trừ sâu an toàn

Việc lựa chọn và sử dụng thuốc trừ sâu an toàn, hiệu quả là rất quan trọng. Cần tuân thủ các quy định và hướng dẫn để đảm bảo an toàn cho người sử dụng và môi trường.

3.3. Canh tác bền vững và quản lý đất

Áp dụng các phương pháp canh tác bền vững như luân canh, trồng cây che phủ giúp cải thiện sức khỏe đất và giảm thiểu sự phát triển của động vật hại.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Các nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn trong quản lý động vật hại đã cho thấy hiệu quả rõ rệt. Việc áp dụng các biện pháp quản lý tích cực đã giúp giảm thiểu thiệt hại và nâng cao năng suất cây trồng.

4.1. Kết quả từ các nghiên cứu điển hình

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng biện pháp sinh học và hóa học đồng bộ có thể giảm thiểu thiệt hại do động vật hại gây ra, nâng cao năng suất cây trồng.

4.2. Ứng dụng công nghệ trong quản lý

Công nghệ mới như cảm biến và dữ liệu lớn đang được áp dụng để theo dõi và quản lý động vật hại hiệu quả hơn, giúp nông dân đưa ra quyết định kịp thời.

V. Kết luận và tương lai của quản lý động vật hại

Quản lý động vật hại cây trồng và nông sản là một lĩnh vực quan trọng trong nông nghiệp hiện đại. Tương lai của quản lý này sẽ phụ thuộc vào việc áp dụng các biện pháp bền vững và công nghệ mới.

5.1. Tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo

Giáo dục và đào tạo về quản lý động vật hại là cần thiết để nâng cao nhận thức và kỹ năng cho nông dân, giúp họ ứng phó hiệu quả với các thách thức.

5.2. Xu hướng phát triển bền vững

Tương lai của quản lý động vật hại sẽ tập trung vào phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và đảm bảo an toàn thực phẩm cho cộng đồng.

11/07/2025
Giáo trình động vật hại cây trồng và nông sản nghề trồng trọt và bảo vệ thực vật trung cấp

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu: Giới thiệu mô đun Bài 1: Nhện hại cây trồng và biện pháp phòng chống Bài 2: Chuột và biện pháp phòng chống Bài 3: Ốc bươu vàng và biện pháp phòng chống Câu hỏi ôn tập: Câu 1: Trong nông nghiệp có những động vật gây hại nào? Câu 2: Trình bày những thiệt hại kinh tế do động vật gây hại gây ra? 3 Bài 1 NHỆN HẠI CÂY TRỒNG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG Mục tiêu của bài Sau khi học xong bài này người học trình bày được khái niệm và đặc điểm nhện hại. Có kỹ năng quan sát, nhận dạng và phương hướng trong phòng chống nhện hại. Nội dung bài: 1. Vai trò và vị trí phân loại của nhện hại cây 1.

Vị trí phân loại Lớp Nhện (Arachnida) với khoảng 35.000 loài được chia thành 7 bộ: Bộ Bò cạp Scorpionida Bộ Nhện lông Solpugida Bộ Bò cạp giả Pseudoscorpiones Bộ Đuôi roi Pedipalpi hoặc Uropigi Bộ Chân dài Phalangidea hoặc Opiliones Bộ Nhện lớn Araneida Bộ Ve bét Acarina Nhện nhỏ nằm trong bộ Ve bét (Acarina), bộ lớn nhất của lớp Nhện và là một trong 3 bộ có ý nghĩa quan trọng nhất đối với con người. Đại đa số ve bét sống trên cạn, một số ít sống dưới nước (Hydracarina). Chúng là một trong rất ít nhóm động vật mà giữa chúng có sự khác biệt lớn về kích thước, phương thức sinh sống và nơi cư trú. Lịch sử nghiên cứu Thuật ngữ “Acari” (Ve bét) được ghi nhận vào những năm 1650.

Nhưng bệnh “sốt do ve” đã được chép trên giấy cỏ ở Ả rập vào năm 1550 trước Công 4 nguyên. Có thể nói đây là tài liệu đầu tiên ghi nhận sự hiểu biết của con người về ve bét. Sau đó Hommer đề cập đến sự xuất hiện của ve trên chó vào năm 850 trước Công nguyên và 500 năm sau, học giả Aristote mô tả về một loài ve ký sinh trên châu chấu. Ngoài ra, những hiểu biết tương tự còn thấy trong các tài liệu ghi chép của Hypocrates, Plutarch.

Cho mãi tới những năm 1660 ve bét vẫn được coi là “chấy rận” hay côn trùng nhỏ. Người đầu tiên đặt tên khoa học Acarus cho ve bét là Linnaeus vào năm 1735. Trong cuốn “Hệ thống tự nhiên” lần thứ nhất Linnaeus đã đặt tên chính xác cho loài Acarus siro và mãi sau này trong lần tái bản thứ 10 tập sách đó, tác giả đã định tên cho 29 loài ve bét gộp trong 1 giống Acarus (Barker & Whartson, 1952; Krantz, 1978). Sau đó gần 2 thế kỷ các nhà tự nhiên học và phân loại học như Lattreille, Leach, Duges, de Geer, Koch (thế kỷ XIX); Kramer, Megnin, Canestrini, Michael, Berlese, Reuter, Vitzthum và Oudemans (cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX) đã có rất nhiều cống hiến nhằm hệ thống hoá một cách chi tiết về ve bét.

Các nghiên cứu chủ yếu là về đặc tính sinh học phát triển của những loài ve bét có ý nghĩa kinh tế xã hội đối với con người. Tuy vậy đại đa số các công trình này đều tập trung vào định loại và nghiên cứu cơ bản.000 loài ve bét được mô tả trong tổng số ước tính hơn nửa triệu loài trên hành tinh (Krantz, 1978). Trước đây, do thiếu hiểu biết về phương thức sinh sống và nơi ở của nhóm ve bét người ta cho rằng chúng là nhóm ký sinh, bằng chứng là nhiều loài được tìm thấy trên cơ thể động vật lớn, chim, thú và trên thực vật. Những nghiên cứu mới đây chỉ ra rằng đất mới là nơi trú ngụ phong phú của ve bét.

Nghiên cứu về ve bét hại cây (mà mới đây thường dùng thuật ngữ nhện nhỏ hoặc nhện hại cây) mới chỉ được tập trung mạnh vào nửa sau của thế kỷ XX. Những công trình nghiên cứu đáng kể tập trung vào phân loại gồm có "Giới thiệu về nhện nhỏ" của Baker và Whartson (1952), "Hướng dẫn về các họ nhện nhỏ" của Baker và ctv. (1958), "Ve bét sống trên cạn tại các đảo thuộc Liên hiệp Anh" 5 của Evan và ctv. Những công trình này tập trung giới thiệu về hệ thống phân loại, mô tả đặc điểm hình thái, đặc điểm phân loại của các nhóm, các họ, các giống tại một số vùng trên thế giới.

Một số công trình không chỉ đề cập tới phân loại mà còn đề cập tới tác hại và các khả năng phòng trừ nhện nhỏ hại cây, nổi bật hơn cả là cuốn "Nhện nhỏ hại cây trồng kinh tế" của Jeppson và ctv. (1975) và cuốn ”Nhện đỏ chăng tơ, đặc điểm sinh học và phòng chống” do Helle và Sabelis (1985) làm chủ biên. Nhóm nhện nhỏ hại cây trồng chủ yếu thuộc vào 2 tổng họ: Nhện chăng tơ Tetranychoidea và Nhện U sần (Eriophyoidea). Các công trình phân loại nhóm Tetranychid đã được Ewing (1913), McGregor (1950), Prichard và Baker (1955), Jeppson và ctv.

(1975) tổng hợp và chỉnh lý. Công trình khá hoàn chỉnh về họ Tenuipalpidae đã được Meyer (1979) biên soạn. Công trình của Jeppson và ctv. (1975) đã phân loại tới các giống của nhóm Eriophid.

Rất nhiều công trình nghiên cứu về tập tính gây hại của những loài nhện hại có ý nghĩa kinh tế cũng như khả năng phòng chống chúng trong sản xuất nông nghiệp thường tập trung ở các nước phát triển như Pháp, Mỹ, Hà Lan, Nhật Bản. Trong vùng Đông Nam Á, nghiên cứu về nhện nhỏ hại chưa nhiều. Baker (1975) ghi nhận có 90 loài nhện chăng tơ ở Nhật Bản và Thái Lan. Tại Việt Nam các loài thường gặp trên cây trồng là 19 loài (Nguyễn Văn Đĩnh, 1994).

Đã có một số nghiên cứu khá chi tiết về đặc điểm sinh học gây hại và biện pháp phòng chống nhện nhỏ hại chè của Nguyễn Văn Đĩnh (1994) và Nguyễn Thái Thắng (2001), nhện nhỏ hại cây ăn quả (Nguyễn Văn Đĩnh, 1992 và 1994; Nguyễn Thị Phương, 1997; Nguyễn Thị Bình, 2002; Trần Xuân Dũng, 2003). Chuyên khảo về nhện nhỏ hại và biện pháp phòng chống đã nêu tóm lược về các loài nhện nhỏ hại quan trọng cũng như biện pháp phòng chống chúng ở Việt Nam (Nguyễn Văn Đĩnh, 2002). Tầm quan trọng của nhện hại cây trồng 6 Cho tới những năm cuối của thế kỷ XX, nhện nhỏ hại cây và côn trùng được xác định là 2 nhóm đối tượng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp. Ở nước ta, trong hai mươi năm trở lại đây, rất nhiều loại cây trồng bị nhện nhỏ hay còn gọi là bét hại cây (Phytophagous mite) gây hại khá nặng.

Đặc biệt là các loại cây trồng được thâm canh cao như bông, chè, cam, chanh, quýt, bưởi, nhãn, vải, đậu đỗ, cà chua, khoai tây, thược dược, hoa hồng và nhiều loài cây làm thuốc, cây cảnh. Nhện nhỏ làm cho cây còi cọc, điểm sinh trưởng bị chết, lá, hoa và quả bị rụng làm giảm đáng kể năng suất, đặc biệt là chất lượng và giá trị hàng hoá của sản phẩm. Tuy nhiên trong sản xuất, người ta thường chỉ phát hiện được triệu chứng gây hại của nhện nhỏ khi đã muộn, lúc quả đã rụng hoặc đã bị ”rám”, điểm sinh trưởng hoặc lá bị “cháy đen” hoặc ”đốm bạc”. Theo thống kê tại một số nước, thiệt hại do nhện phá trên cây táo có thể lên tới 50 - 60%, lê 90%, dâu tây 40 - 70%,.

Ví dụ như đối với cây tre, một loại cây trồng lâm nghiệp chính tại tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc, trong các năm 1997 - 2000, 2 loài nhện hại đã làm giảm sản lượng măng 20 - 40% hoặc nhiều hơn, làm cho nhiều rừng tre, trúc bị “cháy” phải huỷ bỏ (Yan và Zhi. Một ví dụ khác nữa là loài nhện xanh Mononychus tanajoa hại sắn, cùng với rệp sáp, trong những năm 1980 ở châu Phi đã gây nên thiệt hại hàng năm khoảng 1,8 tỷ đô la Mỹ. Ngoài tác hại trực tiếp, một số loài nhện nhỏ hại còn truyền các bệnh virus nguy hiểm cho cây. Không chỉ có vậy, nhện nhỏ còn tấn công gây hại mạnh và giảm chất lượng sản phẩm nông sản sau thu hoạch và chế biến.

Đặc điểm hình thái cấu tạo 2. Cấu tạo chung bên ngoài, bên trong Đặc điểm hình thái của lớp Nhện (Arachnida) 7 Hình 1. Đặc điểm cấu tạo của lớp nhện ( theo Nguyễn Văn Đỉnh) Lớp Nhện bao gồm các loài động vật có cơ thể chia làm 2 phần là đầu - ngực (cephalothorax) và bụng (abdomen), có 4 đôi chân nhưng không có râu. Lớp Nhện chỉ có mắt đơn.

Phần thứ nhất của cơ thể gồm 6 đôi chi phụ: 2 đôi hàm và 4 đôi chân. Đôi hàm I - Hàm dưới (mandibles) và đôi hàm II - Hàm trên (maxillae). Hàm dưới (mandibles) hay còn gọi là kìm (chelicarae) nằm ở phía trên, trước miệng và bao gồm 2 hoặc 3 đốt. Chức năng của nó là bắt giữ và thường để giết con mồi.

Hàm trên (maxillae) nằm ở phía sau hàm dưới, mỗi bên 1 chiếc. Mỗi hàm trên có 1 xúc biện (palpus) lớn. Xúc biện có thể có hình dạng rất khác nhau, nhiều khi có cấu tạo giống như chân còn gọi là chân xúc giác (Thái Trần Bái, 2001), vì thế nhiều loài nhện được coi là có 5 đôi chân. Thông thường chân xúc giác rất phát triển, đặc biệt là đốt thứ nhất.

Nhện thở bằng hệ thống ống khí quản và thở bằng túi phổi. Tận cùng bên ngoài khí quản là các lỗ thở thường nằm ở phía dưới bụng. Đặc điểm cấu tạo ngoài và sự sắp xếp cấu tạo lông của Nhện đỏ ( theo Nguyễn Văn Đỉnh) 2. Cấu tạo chi tiết các phần đầu giả Đầu giả (gnathosoma) chỉ có phụ miệng.

Phía bên trong đầu giả rất đơn giản, chỉ gồm có một ống mà qua đó thức ăn được chuyển qua. Não nằm ở phía sau gnathosoma tức là trong phần thân idiosoma, mắt ở trên mặt lưng hoặc mặt bên của lưng, trong phần thân; trước (propodosoma). Cấu tạo đầu giả (gnathosoma) của nhện chăng tơ ( Theo Nguyễn Văn Đỉnh) (1, 2) Stylophore và kìm của Lindquístiella sp., (1) Mặt lưng, với ngòi châm phóng to, (2) Mặt bụng; infracapitulum và chân xúc giác của Tetranychus sp., mặt bụng bên trái; (4) Mặt bụng của infracapitulum; 7) Chân xúc giác, mặt dưới nhìn nghiêng, (8) Chân xúc giác nhìn từ trên Ch l: gốc kìm; f ch: bao cố định (Helle & Sabelis, 1985) Kìm: Phía trên miệng là đôi kìm có 3 đốt. Đôi kìm kéo dài cùng với đôi chân xúc giác.

Chúng là những cơ quan tìm kiếm và thu lượm thức ăn. Cấu tạo hình dáng của kìm có nhiều biến đổi nhưng kìm không bao giờ là cơ quan cảm giác. Gốc của đốt kìm thứ 3 thường biến đổi tạo thành dạng linh hoạt cử động được như một ngón đính vào cuối đốt 2. Những đốt hay kìm này có răng để ôm ghì vật mồi hoặc cắn xé và nghiền thức ăn.

Đối với nhóm ký sinh, những chiếc kìm này thon mỏng, kéo dài hơn và nhọn sắc hơn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Giáo Trình Quản Lý Động Vật Hại Cây Trồng và Nông Sản là một tài liệu quan trọng giúp người đọc hiểu rõ về các phương pháp quản lý và phòng chống động vật gây hại trong nông nghiệp. Tài liệu này không chỉ cung cấp kiến thức về các loại động vật gây hại phổ biến mà còn hướng dẫn cách áp dụng các biện pháp hiệu quả để bảo vệ cây trồng và nông sản. Đặc biệt, nó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng các biện pháp sinh học và hóa học một cách hợp lý, nhằm đảm bảo an toàn cho môi trường và sức khỏe con người.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học sinh thái học và biện pháp phòng chống rầy lưng trắng sogatella furcifera horvath tại yên mỹ hưng yên năm 2019. Tài liệu này sẽ cung cấp thêm thông tin chi tiết về đặc điểm sinh học của một loại động vật gây hại cụ thể và các biện pháp phòng chống hiệu quả, giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về quản lý động vật hại trong nông nghiệp.