Chương 1 phương điện đối tượng, phạm vi, nội dung, hình thúc và TONG QUAN VE QUAN LY CONG phương pháp quản ly trong khu vực công. Đo quản lý công là lĩnh vực khoa hoc moi mé nên còn 1. Sự hình thành của quản lý công nhiều nội đụng mang tính chuyên sâu cần tiếp tục nghiên cứu, thảo luận, nhất là trong giai đoạn cải cách khu vực công ở 1. Các giai đoạn phái triển hành chính công Việt Nam hiện nay.11 Hành chính công trong thời kỳ dau của công Chúng tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của nghiệp hóa (tù thập ky 80 cua thé kp XVII đến thập kỷ 90 các nhà nghiên cứu và độc giả để cuốn giáo trình được hoàn của thê kỷ XIX) thiện trong lần xuất bản sau.
Hành chỉnh công xuất hiện vào thời kỳ đầu tiên của công, Xin trân trọng cảm ơn! nghiệp hóa khi sản xuất công nghiệp lớn sử dụng máy móc, áp dụng hình thức tổ chức công xưởng và cơ chế thị trường tự đo cạnh tranh khiến cho quá trình tích lũy tu ban gia tang, TAP THE TAC GIA nền kinh tế phát triển nhanh, dẫn đến nhu cầu về sự hỗ trợ của nhà nước đối với giai cấp tư sản. Chính vì vậy vai trò quản ly kinh tế của hành chính công được xác lập và ngày càng nâng cao. Chính phủ các nước tư sản đã thực hiện một chính sách tiền tệ, trong đó quy định các tư thương nước ngoài không mang tiền ra khỏi nước sở tại, mà chỉ được phép mang hàng hóa. Trong chính sách ngoại thương, nhà nước dùng hàng rào thuế quan bảo hộ đánh thuế cao đối với hàng hóa nhập khẩu và áp dụng thuế thấp đối với hàng hóa xuất khẩu.
Mặt khác, nhà nước còn hỗ trợ cho các thương nhân những phương tiện vật chất và tài chính khi họ tham gia buôn bán quốc tế. Nhờ các chính sách đó, các nước tư bản đã tích hiện các quyển mà quan trọng hơn là để có sự giám sat, ché lũy được một lượng tiền tệ và của cải đáng kể cho phát triển ước lẫn nhau giữa các quyền, tạo nên sự cân bằng về quyền kinh tê. Hành chính công trong thời kỳ này áp đụng nguyên lực giữa các cơ quan công quyền. Montesquieu, co tắc mang tính định hướng: “Chính phủ quản lý ít nhất là quan hành pháp không có quyền thông qua luật, nhưng có chính phủ tot nhất”.
Chính phủ chỉ cung cấp những sản phẩm quyên ngăn chặn lập pháp biểu quyết những đạo luật có hại cho quốc gia. Cả Jonh Locke và Montesquieu déu mong nền tảng nhất cho xã hội như thể chế pháp luật, bảo hộ quyền sở hữu tài sản. Hành chính công trong thời kỳ này đã phủ muốn một xã hội tốt đẹp, trong đó quyền tự do của con người định nguyên tắc “vương quyền” coi vua là trên hết, xác lập được để cao. xã hội không phải gánh chịu những lộng hành nguyên tặc phục vụ công chúng của hành chính công và lây của các cơ quan nhà nước.
Như vậy, sự phân chia rành mạch tư tưởng nhân dân là chủ, phủ định tư tưởng nhân trị của chế về chức năng và nhân sự cùng với cơ chế kiềm chế, đổi trọng độ phong kiến, để thay thế bằng tư tưởng pháp trị — nghĩa là có tác dụng vừa hạn chế khá năng lạm quyền, vừa tạo điều quản lý xã hội theo pháp luật. kiện thuận lợi cho việc phát giác sự lạm quyền, đồng thời đề cao trách nhiệm cá nhân. Đây là thời kỳ thai nghén của khoa Tuy nhiên, đặc trưng chủ yếu trong chế độ dùng người học hành chính công. của chính phủ thời kỳ này là “các chính đảng chia nhau lợi ích” gắn với quá trình đưa người của đảng mình vào các vị trí 1.
Hành chính công trong thời kỳ phát triển và hoàn quan trọng trong tổ chức nhà nước nên hành chính công chịu thành công nghiệp hóa (từ thập lạ 80 của thé kp XIX đến sự chỉ phối mạnh mẽ bởi chính trị dan đến không đảm bảo thập kỳ 70 của thể kỷ XX) tính ôn định và chuyên nghiệp của đội ngũ nhân sự hành Thời ky phát triển và hoàn thành công nghiệp hóa là thời chính. Hai lý thuyết chủ yếu về hành chính công có ảnh kỳ phat triển của công nghiệp nặng, công nghiệp hóa chất và hưởng lớn đến tổ chức và hoạt động của chính phủ trong thời hình thành những tập đoàn tư bản độc quyền, các xí nghiệp kỳ này là lý luận coi “Chính phủ là cảnh sát gác đêm” được công nghiệp lớn sử dụng máy móc áp dụng hình thức công ty hình thành trên cơ sở lý luận về kinh tế thị trường của Adam cổ phân, tư bản ngân hàng kết hợp với tư bản công nghiệp, Smith (1776) và lý luận “Nhà nước pháp trị” của J. Locke thể chế kinh tế thị trường hễn hợp giữ vai trò chủ đạo. Trong (1689) va CLL.
Montesquieu (1748) nhằm đề phòng chính thời kỳ này, chính phủ bắt đầu chủ động bổ sung những phủ lạm dụng quyên luc. khuyết tật của thị trường, từng bước can thiệp vào quá trình Theo tư tưởng của J. Montesquieu, viéc vận hành của nền kinh tế thị trường và cung cấp cho xã hội phân chia quyển lực nhà nước thành các quyền lập pháp, những sản phẩm công cộng cơ bản như bảo trợ xã hội, bảo vệ hành pháp, tư pháp, không chỉ để chuyên môn hóa trong thực môi trường, quản chế kinh tế. Chính phủ cũng bắt đầu cung cấp những sản phẩm công cộng hỗn hợp như xây dựng các giữa chính trị và hành chính.
Ông đưa ra lập luận rằng bổ công trình công cộng, các cơ sở cộng đẳng đô thị, công trình nhiệm công chức nên dựa trên sự xúng đáng và công trạng giao thông, năng lượng. khiến cho quy mô của chính phủ và hơn là tỉnh thần đảng phái và cần thiết phải khẳng định chi tiều công tăng lên đáng kể. Chức năng của chính phủ “chính trị” không được tính đến trong nền công vụ. Trong không ngừng được bổ sung, điều chỉnh và dẫn đến sự thành quá trình tách bạch giữa chính trị và hành chính, ông đã thực lập các nhà nước phúc lợi.
sự để cập đến “tính đảng phái” chính trị. Chủ đề chính của Khoa học hành chính công đã bắt đầu từ thời kỳ: này thê T. Wilson là hành chính công phải dựa trên cơ sở một hiện trong tác phẩm“ "Nghiên cứu về hành chính công” năm ngành khoa học quản lý và độc lập với chính trị học truyền 1887 của Thomas W. Wilson', trong đó tổng kết kinh nghiệm thông.
niệm này của ông vẫn còn ảnh hưởng rất về quan hệ giữa lập pháp và hành pháp trong thực tiễn hành lớn và hoàn toàn cần thiết để hiểu rõ về quá trình phát triển chính công ở phương Tây vào thời kỳ đầu của công nghiệp của hành chính công.Wilson cũng nhấn mạnh hóa. Theo ông, 'thực hiện Hiễn pháp khó hơn là xây dựng hành chính công phải thực hiện theo các ý tưởng chính trị và hiến pháp”, điều này cũng có nghĩa là thực thi pháp luật khó Hiến pháp quốc gia. Quan điểm của W. Wilson được nhiều hơn việc ban hành pháp luật.
học giả khác úng hộ như Frank J. Goodnow và Leonard D. Wilson mong muốn những nghiên cứu về hành chính công không chỉ tập trung vào vấn đề nhân sự như nhiều Củng với tư tưởng của T. Wilson, Frank Johnson nhà cải cách đã ủng hộ, mà còn tập trung vào vấn đề tổ chức Goodnow (1859-1939) đã trình bày kỹ lưỡng hơn về sự phân và quản lý nói chung.
Ông đã cố gắng chuyên sự chú ý về đôi hành chính-chính trị trong tác phẩm Chính trị và Hành hành chính công một bước xa hơn bằng cách tìm .hiểu “tổ chính (1900). hành chính hiện đại đã đưa ra một chức và phương pháp của các cơ quan chính phủ” nhằm xác số tỉnh thế khó xử liên quan đến chức năng hành chính và định: (1) điều gì chính phủ làm là có thể phù hợp và thành chính trị — điều hiện đã thế chỗ mối quan tâm truyền thống công; (2) bằng cách nào chính phủ có thé lam những điều phù với sự phân chia quyền lực trong số các nhánh của chính phủ. hợp đó một cách hiệu quả nhất. Trong bài luận của mình, Ông cho rằng.
chính trị và hành chính có thể tách bạch được T. Wilson cũng tin rằng có tổn tại sự khác nhau cơ ban như “su biéu hiện ý chí của nhà nước và sự thực thi ý chí đó”. Trong cuốn sách cũng giới thiệu những phân tích kinh điển của F. Goodnow về sự phân biệt giữa hành chính và chính 1.
Thomas Woodrow Wilson (1856 — 1924) la nha khoa hoc chinh trị đã thừa nhận rằng, khi chức năng ban hành quyết định trị, từng là Chủ tịch của Đại học Princeton Mỹ và sau này là tổng chính trị và hành chính được phân chia một cách hợp pháp, thống thứ 28 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. thì sẽ phát triển một “xu hướng cho sự kiểm soát cần thiết đối phẩm của ông, tác phẩm về cải cách ngân sách (1918) thu hut với sự phát triển vượt ra ngoài khuôn khổ pháp luật thông qua sự quan tâm đặc biệt của xã hội. Wiloughby cho rang, hệ thống đảng phái chính trị”. cải cách ngân sách có thể bao hàm ba nguy cơ chính: (1) làm Leonard D.
White’, mét nhà sáng lập quan trọng của thé nào ngân sách có thể thúc đây và cung cấp cho sự kiểm khoa học hành chính, ông đặc biệt nổi tiếng với cuốn “Nhập soát thường xuyên; (2) làm thể nào ngân sách có thể tăng môn hành chính” (1926). Có thể nói, đây là cuốn sách đầu cường sự hợp tác giữa lập pháp và hành pháp; (3) làm thế nào tiên chuyên sâu về lĩnh vực hành chính. Trong tác phẩm này, ngân sách có thể đảm bảo hiệu quả chấp hành và quản lý. White đã đưa ra một số nguyên tắc quan trọng như: Chính trị Trên cơ sở những luận để này, chính phủ đã thiết lập các đạo Không được xâm phạm vào hành chính; Hành chính công luật nhằm hạn chế các nguy cơ như: Luật giới hạn chi tiêu và phải dựa trên kết quá của việc nghiên cứu khoa học quản lý; thu nhap, Luat kiểm soát lạm chỉ và cân bằng ngân sách, Luật Hành chính công có thê trở thành một khoa học độc lập và sứ về hiệu quả sử dụng ngân sách.
mệnh của hành chính là kinh tế và hiệu quả. Cuốn “Nghiên Lý luận bành chính công thời kỳ này được coi là lý luận cứu khoa học hành chính” coi nguyên lý tổ chức, quản lý hành chính công truyền thống với ba bộ phận: lý luận tách rời nhân sự, quản lý tài chính là những chủ để cơ bản của khoa hành chính và chính trị.