Giáo trình phương pháp dạy học các môn học về tự nhiên và xã hội phần 1 nguyễn thị thấn

Giáo trình Phương pháp dạy học Tự nhiên và Xã hội (phần 1) của Nguyễn Thị Thấn. Tài liệu hữu ích cho giáo viên, sinh viên sư phạm. Tìm hiểu phương pháp giảng dạy hiệu quả.

Chuyên ngành

Phương pháp dạy học các môn học về tự nhiên và xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình

2015

165
58
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Khám phá giáo trình PPDH Tự nhiên Xã hội của Nguyễn Thị Thấn

Giáo trình Phương pháp dạy học các môn học về Tự nhiên và Xã hội Phần 1 do Nguyễn Thị Thấn chủ biên là một tài liệu nền tảng, có giá trị cao trong lĩnh vực giáo dục tiểu học. Được xuất bản bởi NXB Đại học Sư phạm, cuốn sách này không chỉ cung cấp kiến thức chuyên sâu mà còn định hướng phương pháp luận cho sinh viên ngành Sư phạm và các giáo viên đang trực tiếp giảng dạy. Đây được xem là một trong những tài liệu môn PPDH quan trọng, đặt nền móng cho việc đổi mới phương pháp dạy học tiểu học theo hướng phát triển năng lực. Nội dung giáo trình được cấu trúc một cách khoa học, đi từ những vấn đề chung về lí luận dạy học đến hướng dẫn cụ thể cho từng môn học như Tự nhiên và Xã hội, Khoa học, Lịch sử và Địa lí. Cuốn sách của Nguyễn Thị Thấn nhấn mạnh rằng đối tượng học tập của các môn TNXH là những sự vật, hiện tượng cụ thể, gần gũi với đời sống học sinh. Do đó, việc dạy học cần khai thác tối đa kinh nghiệm và vốn sống của các em, tạo cơ hội để học sinh tự khám phá tri thức. Giáo trình này trở thành kim chỉ nam giúp người dạy thiết kế bài giảng sinh động, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục mới, tập trung vào việc hình thành và phát triển năng lực học sinh một cách toàn diện.

1.1. Tác giả Nguyễn Thị Thấn và vai trò của NXB Đại học Sư phạm

Tác giả chủ biên, PGS.TS. Nguyễn Thị Thấn, là một chuyên gia uy tín trong lĩnh vực khoa học giáo dục và phương pháp giảng dạy tại bậc tiểu học. Cùng với đội ngũ các nhà khoa học khác, bà đã biên soạn nên cuốn giáo trình đại học sư phạm này với mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc dạy các môn Tự nhiên và Xã hội. Cuốn sách là sản phẩm của quá trình nghiên cứu công phu, được bảo chứng chất lượng bởi NXB Đại học Sư phạm – một đơn vị xuất bản hàng đầu về các ấn phẩm giáo dục tại Việt Nam. Sự kết hợp này đảm bảo nội dung tài liệu vừa có tính học thuật sâu sắc, vừa bám sát thực tiễn giáo dục, trở thành một nguồn tham khảo không thể thiếu cho các thế hệ nhà giáo. Cuốn sách của Nguyễn Thị Thấn đã qua nhiều lần tái bản, chứng tỏ giá trị bền vững và sức ảnh hưởng rộng lớn trong cộng đồng sư phạm.

1.2. Mục tiêu cốt lõi của tài liệu môn PPDH Tự nhiên Xã hội

Mục tiêu chính của giáo trình không chỉ dừng lại ở việc trang bị kiến thức. Tài liệu hướng đến việc hình thành và phát triển kỹ năng sư phạm cho người học. Cụ thể, giáo trình giúp sinh viên và giáo viên: Nắm vững lịch sử phát triển, đặc điểm và kế hoạch dạy học của các môn TNXH. Hiểu rõ quy trình hình thành biểu tượng và khái niệm khoa học cho học sinh tiểu học. Thành thạo các phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động học tập và sử dụng phương tiện dạy học hiệu quả. Quan trọng hơn, giáo trình nhấn mạnh việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm phát huy vai trò chủ thể của học sinh, giúp các em không chỉ tiếp thu kiến thức mà còn hình thành năng lực tự học, giải quyết vấn đề và tư duy sáng tạo. Đây là nền tảng cho sự thành công trong sự nghiệp giáo dục tiểu học.

II. Thách thức trong đổi mới PPDH các môn Tự nhiên và Xã hội

Việc giảng dạy các môn học về Tự nhiên và Xã hội ở tiểu học đối mặt với không ít thách thức, đặc biệt trong bối cảnh yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học tiểu học ngày càng cấp thiết. Một trong những khó khăn lớn nhất là việc thay đổi tư duy dạy học từ truyền thụ một chiều sang tổ chức hoạt động học tập lấy học sinh làm trung tâm. Nhiều giáo viên vẫn quen với lối dạy truyền thống, tập trung vào việc cung cấp kiến thức có sẵn trong sách giáo khoa mà chưa chú trọng đến việc khơi gợi khả năng tự khám phá của học sinh. Thêm vào đó, việc thiết kế bài giảng tích hợp, gắn liền với thực tiễn đòi hỏi sự đầu tư lớn về thời gian và trí tuệ. Giáo trình Phương pháp dạy học các môn học về Tự nhiên và Xã hội Phần 1 của Nguyễn Thị Thấn ra đời nhằm giải quyết những vấn đề này. Tài liệu chỉ ra rằng đặc trưng của môn TNXH là sự gần gũi với kinh nghiệm sống của học sinh, nhưng nếu không có phương pháp giảng dạy môn tự nhiên xã hội phù hợp, bài học sẽ trở nên khô khan, thiếu hấp dẫn. Thách thức còn nằm ở việc đánh giá, làm sao để đo lường chính xác sự phát triển năng lực học sinh thay vì chỉ kiểm tra khả năng ghi nhớ kiến thức. Cuốn sách này cung cấp những định hướng quan trọng để vượt qua các rào cản đó.

2.1. Hạn chế của các phương pháp giảng dạy truyền thống

Các phương pháp dạy học truyền thống thường đặt giáo viên vào vị trí trung tâm, là người truyền đạt kiến thức và học sinh là người tiếp nhận thụ động. Lối dạy này làm hạn chế tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học. Học sinh ít có cơ hội huy động vốn sống và kinh nghiệm của bản thân để xây dựng bài học. Điều này đặc biệt bất lợi đối với các môn TNXH, nơi mà kiến thức gắn liền với thế giới tự nhiên và xã hội xung quanh các em. Việc áp đặt kiến thức một chiều khiến bài học trở nên trừu tượng, khó hiểu và không tạo được sự hứng thú. Hơn nữa, các phương pháp này thường thiếu sự tương tác, hợp tác giữa các học sinh, làm giảm cơ hội phát triển các kỹ năng mềm quan trọng.

2.2. Yêu cầu phát triển năng lực học sinh trong bối cảnh mới

Chương trình giáo dục hiện đại không chỉ tập trung vào kiến thức mà còn chú trọng phát triển toàn diện năng lực học sinh. Các năng lực cốt lõi cần hình thành bao gồm năng lực tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo. Để đáp ứng yêu cầu này, phương pháp giảng dạy môn tự nhiên xã hội phải thay đổi. Thay vì hỏi “học sinh biết gì?”, câu hỏi cần đặt ra là “học sinh làm được gì với kiến thức đó?”. Giáo viên cần tạo ra các tình huống học tập có vấn đề, khuyến khích học sinh vận dụng kiến thức vào thực tiễn, qua đó rèn luyện tư duy phản biện và khả năng ứng phó linh hoạt. Đây chính là định hướng mà giáo trình của Nguyễn Thị Thấn theo đuổi.

III. Nền tảng lí luận dạy học trong sách của Nguyễn Thị Thấn

Giáo trình Phương pháp dạy học các môn học về Tự nhiên và Xã hội Phần 1 xây dựng một hệ thống lí luận dạy học vững chắc, làm cơ sở cho mọi định hướng và phương pháp được đề xuất. Cốt lõi của hệ thống lý luận này là quan điểm nhận thức đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng. Tác giả Nguyễn Thị Thấn và các cộng sự đã phân tích sâu sắc quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh tiểu học, đặc biệt trong các môn TNXH. Quá trình này bắt đầu từ việc tri giác các sự vật, hiện tượng riêng lẻ, sau đó hình thành các biểu tượng trong tâm trí và cuối cùng là khái quát hóa thành các khái niệm khoa học. Giáo trình nhấn mạnh, để hình thành biểu tượng một cách chính xác, phương pháp quan sát đóng vai trò then chốt. Việc dạy học không phải là rót kiến thức vào đầu học sinh, mà là một quá trình tổ chức hoạt động học tập để các em tự mình kiến tạo nên tri thức. Một điểm quan trọng trong lí luận dạy học của sách là việc thừa nhận và tận dụng vốn kinh nghiệm sẵn có của học sinh. Vì đối tượng học tập gần gũi, học sinh đã có những hiểu biết ban đầu. Nhiệm vụ của người giáo viên là giúp các em hệ thống hóa, chính xác hóa và nâng tầm những hiểu biết đó thành tri thức khoa học.

3.1. Quy trình hình thành biểu tượng và khái niệm môn TNXH

Giáo trình mô tả chi tiết quy trình hình thành khái niệm khoa học cho học sinh. Giai đoạn đầu tiên là hình thành biểu tượng thông qua tri giác có chủ đích, mà hình thức cao nhất là quan sát. Giáo viên cần tổ chức cho học sinh tiếp xúc trực tiếp với vật thật, tranh ảnh, mô hình để các em sử dụng các giác quan thu thập thông tin. Từ những biểu tượng cụ thể về một loạt sự vật, hiện tượng, giáo viên hướng dẫn học sinh so sánh, phân tích để tìm ra những dấu hiệu bản chất, chung nhất. Trên cơ sở đó, học sinh tự mình phát biểu định nghĩa về khái niệm. Quy trình này đảm bảo kiến thức được hình thành một cách vững chắc, sâu sắc, tránh tình trạng học vẹt, thuộc lòng mà không hiểu bản chất.

3.2. Đặc điểm chung của các môn học về tự nhiên và xã hội

Một trong những luận điểm quan trọng của giáo trình là phân tích đặc điểm đặc trưng của các môn học về Tự nhiên và Xã hội. Khác với Toán hay Tiếng Việt, đối tượng học tập của các môn này chính là sự vật, hiện tượng và các mối quan hệ trong môi trường xung quanh. Chúng cụ thể, sinh động và gần gũi. Chính đặc điểm này quyết định phương pháp dạy học phải coi trọng vai trò của trực quan, thực hành và liên hệ thực tế. Giáo viên cần tạo cơ hội tối đa để học sinh được “chạm” vào kiến thức, được khám phá thế giới xung quanh bằng chính trải nghiệm của mình, từ đó giúp các em gắn kết kiến thức học được với cuộc sống hàng ngày.

IV. Cách dạy học các môn Tự nhiên Xã hội hiệu quả nhất

Từ nền tảng lý luận vững chắc, giáo trình Phương pháp dạy học các môn học về Tự nhiên và Xã hội Phần 1 của Nguyễn Thị Thấn đi sâu vào giới thiệu và hướng dẫn các phương pháp giảng dạy môn tự nhiên xã hội cụ thể. Cuốn sách không đề cao một phương pháp vạn năng nào, mà nhấn mạnh sự cần thiết của việc lựa chọn và phối hợp linh hoạt nhiều phương pháp khác nhau để đạt hiệu quả cao nhất. Các phương pháp được trình bày rất đa dạng, từ những phương pháp truyền thống được cải tiến như quan sát, hỏi đáp, kể chuyện đến các phương pháp hiện đại như dạy học giải quyết vấn đề, thảo luận nhóm, đóng vai. Mỗi phương pháp đều được phân tích kỹ lưỡng về khái niệm, tác dụng, cách tiến hành và những lưu ý khi sử dụng. Ví dụ, phương pháp quan sát được coi là phương pháp đặc trưng, giúp hình thành biểu tượng chính xác. Phương pháp giải quyết vấn đề kích thích tư duy sáng tạo và năng lực học sinh. Phương pháp thảo luận nhóm giúp tăng cường tương tác và kỹ năng sư phạm trong việc điều hành. Việc áp dụng thành công các phương pháp này sẽ biến giờ học môn TNXH trở nên sôi nổi, hấp dẫn và thực sự hiệu quả.

4.1. Hướng dẫn tổ chức hoạt động học tập qua quan sát và thí nghiệm

Quan sát và thí nghiệm là hai phương pháp đặc thù giúp học sinh khám phá thế giới tự nhiên một cách trực quan. Giáo trình hướng dẫn chi tiết các bước tổ chức hoạt động học tập này: từ việc xác định mục đích, chuẩn bị đối tượng/dụng cụ, đến việc hướng dẫn học sinh tiến hành và báo cáo kết quả. Với phương pháp quan sát, giáo viên cần chuẩn bị hệ thống câu hỏi gợi mở để định hướng sự chú ý của học sinh vào các dấu hiệu bản chất của sự vật, hiện tượng. Với phương pháp thí nghiệm, sách giới thiệu nhiều cách tổ chức khác nhau, từ thí nghiệm biểu diễn của giáo viên đến thí nghiệm thực hành theo nhóm của học sinh, nhằm phát huy tối đa tính tích cực và tinh thần khám phá khoa học.

4.2. Rèn luyện kỹ năng sư phạm với phương pháp hỏi đáp thảo luận

Hỏi đáp và thảo luận là những phương pháp giúp tăng cường sự tương tác trong lớp học. Cuốn sách nhấn mạnh nghệ thuật đặt câu hỏi của giáo viên là yếu tố quyết định thành công. Câu hỏi cần rõ ràng, gợi mở, kích thích tư duy thay vì chỉ yêu cầu tái hiện kiến thức. Giáo trình cũng hướng dẫn các kỹ thuật tổ chức thảo luận nhóm hiệu quả, giúp mọi học sinh đều được tham gia đóng góp ý kiến, rèn luyện kỹ năng lắng nghe, trình bày quan điểm và hợp tác để giải quyết nhiệm vụ chung. Việc vận dụng tốt các phương pháp này không chỉ giúp học sinh lĩnh hội kiến thức mà còn là cách rèn luyện kỹ năng sư phạm cho chính giáo viên.

4.3. Vận dụng dạy học tích hợp và giải quyết vấn đề thực tiễn

Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề và dạy học tích hợp là những định hướng hiện đại được giáo trình đặc biệt chú trọng. Dạy học giải quyết vấn đề bắt đầu bằng việc giáo viên tạo ra một “tình huống có vấn đề” - một mâu thuẫn nhận thức mà học sinh muốn và có thể giải quyết. Quá trình học sinh tự lực tìm tòi lời giải sẽ giúp các em không chỉ nắm được kiến thức mới mà còn học được cách tư duy khoa học. Dạy học tích hợp là việc kết nối kiến thức của nhiều lĩnh vực khác nhau (Sinh học, Địa lí, Lịch sử, Môi trường...) để giải quyết một chủ đề học tập, giúp học sinh có cái nhìn toàn diện và hệ thống về thế giới.

V. Bí quyết thiết kế bài giảng TNXH theo giáo trình Nguyễn Thị Thấn

Ứng dụng những lý luận và phương pháp từ giáo trình phương pháp dạy học các môn học về tự nhiên và xã hội phần 1 vào thực tiễn đòi hỏi người giáo viên phải có kỹ năng thiết kế bài giảng một cách khoa học và sáng tạo. Cuốn sách của Nguyễn Thị Thấn không chỉ cung cấp công cụ, mà còn là nguồn cảm hứng để giáo viên xây dựng những tiết học hiệu quả. Bí quyết nằm ở việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa nội dung kiến thức, phương pháp dạy học và hình thức tổ chức. Một bài giảng thành công bắt đầu từ việc xác định rõ mục tiêu, không chỉ về kiến thức mà còn về kỹ năng và thái độ, hướng tới việc phát triển năng lực học sinh. Thay vì đi theo lối mòn của sách giáo khoa, giáo viên cần chủ động cấu trúc lại nội dung, tạo ra các chuỗi tổ chức hoạt động học tập lôi cuốn. Các hoạt động này cần đa dạng, xen kẽ giữa hoạt động cá nhân, cặp đôi và nhóm, giữa hoạt động tìm tòi, thực hành và vận dụng. Yếu tố quan trọng là phải luôn đặt câu hỏi: Hoạt động này giúp học sinh khám phá ra điều gì? Làm thế nào để khai thác được vốn sống của các em? Việc thiết kế bài giảng theo định hướng này sẽ mang lại những giờ học thực sự ý nghĩa.

5.1. Các bước thiết kế bài giảng môn TNXH theo định hướng mới

Giáo trình gợi ý một quy trình thiết kế bài giảng linh hoạt. Bước 1: Xác định mục tiêu bài học dựa trên yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực. Bước 2: Nghiên cứu nội dung và lựa chọn những kiến thức cốt lõi. Bước 3: Lựa chọn và phối hợp các phương pháp, kỹ thuật dạy học phù hợp. Bước 4: Thiết kế chuỗi các hoạt động học tập logic, trong đó mô tả rõ hoạt động của giáo viên và học sinh. Bước 5: Chuẩn bị học liệu, phương tiện dạy học đa dạng (vật thật, tranh ảnh, video...). Bước 6: Xây dựng phương án kiểm tra, đánh giá trong và sau tiết học. Quy trình này giúp giáo viên có sự chuẩn bị chu đáo và chủ động trong mọi tình huống sư phạm.

5.2. Đổi mới kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh

Một phần quan trọng của quá trình dạy học là kiểm tra, đánh giá. Giáo trình định hướng việc đổi mới hoạt động này theo hướng toàn diện và nhân văn. Việc đánh giá không chỉ nhằm mục đích cho điểm, xếp loại mà quan trọng hơn là cung cấp thông tin phản hồi giúp học sinh điều chỉnh cách học và giáo viên điều chỉnh cách dạy. Cần kết hợp nhiều hình thức đánh giá: đánh giá thường xuyên qua quan sát, nhận xét; đánh giá định kỳ qua bài kiểm tra; và tự đánh giá, đánh giá đồng đẳng của học sinh. Các công cụ đánh giá cũng cần đa dạng, không chỉ là câu hỏi tự luận, trắc nghiệm mà còn có thể là sản phẩm học tập, bài trình bày, phiếu quan sát... Mục tiêu cuối cùng là khuyến khích sự tiến bộ và tạo động lực học tập cho mỗi học sinh.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1, người học cần: ~ Nấm được khái quát lịch sử phát triển và tên gọi các môn học về TN-XH cùng với các cuộc cải cách giáo dục ở Việt Nam. ~ Xác định được kế hoạch dạy học các môn học. - Nắm và phân tích được đặc điểm đặc trưng của các môn học về TN-XH để định hướng yêu cầu về PPDH các môn học này. — Xác định được các bước và có kĩ năng hình thành khái niệm cho HS về TN-XH.

NO! DUNG TRONG TAM Người học nên tập trung vào một số nội dung chính sau: 1. Tên gọi của các môn học về tự nhiên và xã hội gắn với các cuộc cải cách giáo dục (Cách trí cải tiến; Tìm hiểu khoa học thường thức; Tự nhiên và Xã hội) và trong chương trình 2000 (Tự nhiên và Xã hội; Khoa học; Lich su va Dia lf). Nắm được đặc trưng của đối tượng học tập các môn học về tự nhiên và xã hội chính là các sự vật và hiện tượng của môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh, nên chúng thường cụ thể và gần gũi với HS. Hay nói cách khác ở các môn học này các em được học về những sự vật và hiện tượng mà các em đã có nhiều kinh nghiệm và vốn sống.

Với đặc trưng này khi dạy học ŒV cần coi trọng kinh nghiệm, vốn sống của HS bằng cách: tăng cường, tạo cơ hội cho HS được tìm tdi, khám phá ra kiến thức của bài học; khai thác triệt để kinh nghiệm của HS; tích cực yêu cầu HS liên hệ và vận dụng kiến thức mới học vào thực tế cuộc sống để các em có thể gắn kết chúng với kinh nghiệm sẵn có của mình. Việc hình thành khái niệm nên đi từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lí tính, từ hình thành biểu tượng đến hình thành khái niệm và lấy được ví dụ để minh hoạ. Dé hiểu được bài giẳng trước hết sinh viên phải ôn lại khái niệm trì giác đã học ở học phần Tâm lí học đại cương, biết vận dụng một cách sáng tạo vào quá trình dạy học các môn học về tự nhiên và xã hội nói chung và vào việc hình thành các khái niệm về tự nhiên và xã hội nói riêng. Những điểm cơ bản cần lưu ý: — Tri giác là giai đoạn đầu tiên của quá trình lĩnh hội hệ thống trì thức.

— Trước khi cho HS tri giác phải tìm hiểu xem ở HS đã có những kinh nghiệm gì về đối tượng và tri giác. — Trên cơ sở những kinh nghiệm của HS, GV đặt câu hỏi hoặc nêu tình huống có vấn để để định hướng việc tri giác của HS vào trọng tâm của đối tượng. ~ Năng lực tri giác của HS tiểu học rất thấp nên việc tổ chức cho HS quan sát đóng vai trò quan trọng. Việc quan sát phải hình thành 6 HS những biểu tượng rõ ràng, chắc chắn về đối tượng quan sát.

Về phương pháp hình thành khái niệm: trước hết sinh viên phải nắm vững các khái niệm: khái niệm, khái niệm chung, khái niệm riêng, sau đó hiểu và ghi nhớ được các bước hình thành khái niệm theo các cách phân chia trong bài giảng. Điều quan trọng hơn cả là sinh viên phải biết vận dụng một cách thành thạo các cách phân chia trong bài giảng. Có thể tóm tắt các cách chia đó như sau: a. Cach phan chia cia V.

Gérésencé va LA. Stépandp — Hinh thanh biéu tượng: + Tổ chức cho HS quan sát các đối tượng có liên quan đến khái niệm. + Tìm hiểu những kinh nghiệm vốn có của H5 về các đối tượng quan sát. + Đặt câu hỏi hoặc tình huống có vấn đề để HS tìm ra những đặc điểm của các đối tượng.

+ Cho HS so sánh các đối tượng để tìm ra những dấu hiệu bản chất. + Củng cố biểu tượng. ~+ Hình thành khái niệm: Hình thành khái niệm chung. THỦ VIÊN BAI HOC- THỦ ĐÔ HÀ NỘI: + Hình thành khái niệm riêng.

M —NL —___ + Củng cố khái niệm. 17 2-PP DẠY HỌC TNXHÐ_: b. Cách phan chia cua I. Cupesevich — Giúp HS phân biệt các sự vật, hiện tượng có liên quan đến khái niệm với các sự vật, hiện tượng khác.

~— Tìm ra những đặc điểm chung của các sự vật, hiện tượng. — Tìm ra những đấu hiệu đặc trưng của từng sự vật, biện tượng đơn lẻ. — Phát biểu khái niệm. — Vận dụng khái niệm.

CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP Hãy điển những thông tin cần thiết vào bằng sau: Năm cải cách giáo dục Tên gọi của môn học Nội dựng chính Trong lần đổi mới chương trình tiểu học gần đây nhất (CT 2000) tên gọi của các môn học có thay đổi so với trước đây không? Tại sao? Vì sao có thể nói các môn học về tự nhiên và xã hội là những môn học mà HS có nhiều kinh nghiệm và vốn sống? Dựa vào đặc trưng này khi dạy học GV cần lưu ý những điểm gì? Trình bày khái niệm biểu tượng. Nêu các bước hình thành biểu tượng và cho một ví dụ minh hoa. Có mấy giai đoạn hình thành khái niệm? Là những giai đoạn nào? Hãy lấy ví dụ về việc hình thành khái niệm theo hai giai đoạn của V. Gôrôsencô và LA.

Stêpanốp và theo năm giai đoạn của L. Hãy đọc những thông tin ở ví dụ dưới đây và cho biết đó là cách hình thành biểu tượng hay khái niệm nào cho HS? Hãy đối chiếu cách hình thành khái niệm đó với hai cách được nêu trong giáo trình. 18 Ví dụ: Bài 19 ~ Các thế hệ trong một gia đình (TN-XH, lớp 3). GV có thể yêu cầu từng cặp HS đặt câu hỏi cho nhau: Trong gia đình bạn ai là người nhiều tuổi nhất, ai là mgười ít tuổi nhất? Sau đó, GV yêu cầu HS quan sát tranh vẽ về gia đình bạn Minh trong SGK và cho biết trong gia đình bạn Minh ai là người nhiều tuổi nhất, ai là người ít tuổi nhất? Trên cơ sở câu trả lời của HS, GV giảng: Mỗi gia đình thường có những người ở các lứa tuổi khác nhau cùng chung sống.

Đó là những thế hệ khác nhau. GV đặt câu hỏi tiếp: — Gia đình bạn Minh có mấy thế hệ cùng chung sống? — Thế hệ thứ nhất của gia đình Minh là những ai? — Thế hệ thứ hai của gia đình Minh là những ai? — Thế hệ thứ ba của gia đình Minh là những ai? — Thế nào là gia đình có ba thế hệ? GV yêu cầu HS quan sát tiếp tranh vẽ gia đình Lan và trả lời các câu hỏi; ~ Gia đình Lan có mấy thế hệ? — Mỗi thế hệ gồm có những ai? — Thế nào là gia đình có hai thế hệ? Để giúp HS phân biệt được các mô hình gia đình, GV có thể cho HS liên hệ mình sống trong gia đình mấy thế hệ (kết hợp giới thiệu về ảnh của gia đình). Sau đó đặt các câu hỏi tình huống: — Một gia đình chỉ có hai vợ chồng cùng chung sống được gọi là gia đình mấy thế hệ? — Một gia đình có bà (hoặc ông), bố mẹ, con của bố mẹ cùng chung sống được gọi là gia đình mấy thế hệ? 19 PHƯƠNG PHAP DAY HOC CAC MONHOC ~ VỀ TỰ NHIÊN VÀ XÃ HOI I. ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CÁC MÔN HỌC VỀ TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI 1.

Bối cảnh chung Đất nước ta đang thực hiện sự nghiệp Công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Để thực hiện sự nghiệp này đất nước cần những con người năng động, tích cực, sáng tạo, có thể thích ứng với sự thay đổi và phát triển của xã hội hiện đại. Xuất phát từ yêu cầu đào tạo con người mới của xã hội, ngành Giáo đục và Đào tạo đã từng bước thực hiện việc đổi mới mục tiêu, nội dung và chương trình giáo dục trong nhà trường phổ thông. Sự thay đổi nổi bật có thể kể đến là chương trình được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt gần đây nhất vào năm 2001, được triển khai đại trà từ năm học 2002 — 2003.

Trọng tâm của việc đổi mới chương trình tiểu học mới chính là đổi mới về PPDH. Thế giới đang chuyển sang nên kinh tế trì thức, vì vậy việc đầu tư vào chất xám là cách đầu tư hiệu quả nhất cho sự phát triển và phồn thịnh của các quốc gia. Nhu cầu học tập của người dân ngày càng được nâng cao. Giáo dục ngày càng có vị trí đặc biệt trong xã hội hiện đại.

Sự phát triển của khoa học công nghệ đang mở ra những khả năng và điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng các phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học. : Chúng ta đang sống trong thời đại bùng nổ thông tin cùng với sự thay đổi tăng tốc không chỉ về lượng thông tin. H§ tiểu học hằng ngày được tiếp xúc với các nguồn thông tin đa dang. Những bối cảnh trên đòi hỏi nhà trường cần đổi mới về mục tiêu, nội dung và PPDH.

20 Định hướng đổi mới các PPDH không chỉ là vấn đề đặt ra trong nội bộ ngành giáo dục đào tạo mà đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 (khoá VI), Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIIJ, được thể chế hoá trong Luật Giáo dục và được cụ thể hoá trong Chỉ thị 15 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Điều 28, Khoản 2 của Laật Giáo dục 2005 đã chỉ rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niểm vui, hứng thú học tập cho HS”. Những định hướng đổi mới phương pháp dạy học 2. Phát huy cao độ tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong quá trình lĩnh hội tri thức.

Tính tích cực là đặc điểm vốn có của con người. Tính tích cực ở đây được dùng trái nghĩa với tính thụ động chứ không trái nghĩa với tính điêu cực. Nguồn gốc của tính tích cực là nhu cầu. Nhu cầu của con người luôn là động cơ để thúc đẩy các hoạt động của con người.

Vì vậy khi con người có nhu cầu nhận thức thì nhu cầu này sẽ trở thành động cơ kích thích HS học tập tích cực, chủ động và sáng tạo. Tính tích cực trong học tập được biểu hiện ở các điểm như: hãng hái trả lời câu hỏi của GV, nêu thắc mắc, đặt câu hỏi về những vấn đề chưa hiểu rõ; chủ động vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào cuộc sống, tập trung chú ý vào vấn để đang học, kiên trì thực hiện các bài tập, không nắn trước khó khăn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ