Chương 1, người học cần: ~ Nấm được khái quát lịch sử phát triển và tên gọi các môn học về TN-XH cùng với các cuộc cải cách giáo dục ở Việt Nam. ~ Xác định được kế hoạch dạy học các môn học. - Nắm và phân tích được đặc điểm đặc trưng của các môn học về TN-XH để định hướng yêu cầu về PPDH các môn học này. — Xác định được các bước và có kĩ năng hình thành khái niệm cho HS về TN-XH.
NO! DUNG TRONG TAM Người học nên tập trung vào một số nội dung chính sau: 1. Tên gọi của các môn học về tự nhiên và xã hội gắn với các cuộc cải cách giáo dục (Cách trí cải tiến; Tìm hiểu khoa học thường thức; Tự nhiên và Xã hội) và trong chương trình 2000 (Tự nhiên và Xã hội; Khoa học; Lich su va Dia lf). Nắm được đặc trưng của đối tượng học tập các môn học về tự nhiên và xã hội chính là các sự vật và hiện tượng của môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh, nên chúng thường cụ thể và gần gũi với HS. Hay nói cách khác ở các môn học này các em được học về những sự vật và hiện tượng mà các em đã có nhiều kinh nghiệm và vốn sống.
Với đặc trưng này khi dạy học ŒV cần coi trọng kinh nghiệm, vốn sống của HS bằng cách: tăng cường, tạo cơ hội cho HS được tìm tdi, khám phá ra kiến thức của bài học; khai thác triệt để kinh nghiệm của HS; tích cực yêu cầu HS liên hệ và vận dụng kiến thức mới học vào thực tế cuộc sống để các em có thể gắn kết chúng với kinh nghiệm sẵn có của mình. Việc hình thành khái niệm nên đi từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lí tính, từ hình thành biểu tượng đến hình thành khái niệm và lấy được ví dụ để minh hoạ. Dé hiểu được bài giẳng trước hết sinh viên phải ôn lại khái niệm trì giác đã học ở học phần Tâm lí học đại cương, biết vận dụng một cách sáng tạo vào quá trình dạy học các môn học về tự nhiên và xã hội nói chung và vào việc hình thành các khái niệm về tự nhiên và xã hội nói riêng. Những điểm cơ bản cần lưu ý: — Tri giác là giai đoạn đầu tiên của quá trình lĩnh hội hệ thống trì thức.
— Trước khi cho HS tri giác phải tìm hiểu xem ở HS đã có những kinh nghiệm gì về đối tượng và tri giác. — Trên cơ sở những kinh nghiệm của HS, GV đặt câu hỏi hoặc nêu tình huống có vấn để để định hướng việc tri giác của HS vào trọng tâm của đối tượng. ~ Năng lực tri giác của HS tiểu học rất thấp nên việc tổ chức cho HS quan sát đóng vai trò quan trọng. Việc quan sát phải hình thành 6 HS những biểu tượng rõ ràng, chắc chắn về đối tượng quan sát.
Về phương pháp hình thành khái niệm: trước hết sinh viên phải nắm vững các khái niệm: khái niệm, khái niệm chung, khái niệm riêng, sau đó hiểu và ghi nhớ được các bước hình thành khái niệm theo các cách phân chia trong bài giảng. Điều quan trọng hơn cả là sinh viên phải biết vận dụng một cách thành thạo các cách phân chia trong bài giảng. Có thể tóm tắt các cách chia đó như sau: a. Cach phan chia cia V.
Gérésencé va LA. Stépandp — Hinh thanh biéu tượng: + Tổ chức cho HS quan sát các đối tượng có liên quan đến khái niệm. + Tìm hiểu những kinh nghiệm vốn có của H5 về các đối tượng quan sát. + Đặt câu hỏi hoặc tình huống có vấn đề để HS tìm ra những đặc điểm của các đối tượng.
+ Cho HS so sánh các đối tượng để tìm ra những dấu hiệu bản chất. + Củng cố biểu tượng. ~+ Hình thành khái niệm: Hình thành khái niệm chung. THỦ VIÊN BAI HOC- THỦ ĐÔ HÀ NỘI: + Hình thành khái niệm riêng.
M —NL —___ + Củng cố khái niệm. 17 2-PP DẠY HỌC TNXHÐ_: b. Cách phan chia cua I. Cupesevich — Giúp HS phân biệt các sự vật, hiện tượng có liên quan đến khái niệm với các sự vật, hiện tượng khác.
~— Tìm ra những đặc điểm chung của các sự vật, hiện tượng. — Tìm ra những đấu hiệu đặc trưng của từng sự vật, biện tượng đơn lẻ. — Phát biểu khái niệm. — Vận dụng khái niệm.
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP Hãy điển những thông tin cần thiết vào bằng sau: Năm cải cách giáo dục Tên gọi của môn học Nội dựng chính Trong lần đổi mới chương trình tiểu học gần đây nhất (CT 2000) tên gọi của các môn học có thay đổi so với trước đây không? Tại sao? Vì sao có thể nói các môn học về tự nhiên và xã hội là những môn học mà HS có nhiều kinh nghiệm và vốn sống? Dựa vào đặc trưng này khi dạy học GV cần lưu ý những điểm gì? Trình bày khái niệm biểu tượng. Nêu các bước hình thành biểu tượng và cho một ví dụ minh hoa. Có mấy giai đoạn hình thành khái niệm? Là những giai đoạn nào? Hãy lấy ví dụ về việc hình thành khái niệm theo hai giai đoạn của V. Gôrôsencô và LA.
Stêpanốp và theo năm giai đoạn của L. Hãy đọc những thông tin ở ví dụ dưới đây và cho biết đó là cách hình thành biểu tượng hay khái niệm nào cho HS? Hãy đối chiếu cách hình thành khái niệm đó với hai cách được nêu trong giáo trình. 18 Ví dụ: Bài 19 ~ Các thế hệ trong một gia đình (TN-XH, lớp 3). GV có thể yêu cầu từng cặp HS đặt câu hỏi cho nhau: Trong gia đình bạn ai là người nhiều tuổi nhất, ai là mgười ít tuổi nhất? Sau đó, GV yêu cầu HS quan sát tranh vẽ về gia đình bạn Minh trong SGK và cho biết trong gia đình bạn Minh ai là người nhiều tuổi nhất, ai là người ít tuổi nhất? Trên cơ sở câu trả lời của HS, GV giảng: Mỗi gia đình thường có những người ở các lứa tuổi khác nhau cùng chung sống.
Đó là những thế hệ khác nhau. GV đặt câu hỏi tiếp: — Gia đình bạn Minh có mấy thế hệ cùng chung sống? — Thế hệ thứ nhất của gia đình Minh là những ai? — Thế hệ thứ hai của gia đình Minh là những ai? — Thế hệ thứ ba của gia đình Minh là những ai? — Thế nào là gia đình có ba thế hệ? GV yêu cầu HS quan sát tiếp tranh vẽ gia đình Lan và trả lời các câu hỏi; ~ Gia đình Lan có mấy thế hệ? — Mỗi thế hệ gồm có những ai? — Thế nào là gia đình có hai thế hệ? Để giúp HS phân biệt được các mô hình gia đình, GV có thể cho HS liên hệ mình sống trong gia đình mấy thế hệ (kết hợp giới thiệu về ảnh của gia đình). Sau đó đặt các câu hỏi tình huống: — Một gia đình chỉ có hai vợ chồng cùng chung sống được gọi là gia đình mấy thế hệ? — Một gia đình có bà (hoặc ông), bố mẹ, con của bố mẹ cùng chung sống được gọi là gia đình mấy thế hệ? 19 PHƯƠNG PHAP DAY HOC CAC MONHOC ~ VỀ TỰ NHIÊN VÀ XÃ HOI I. ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CÁC MÔN HỌC VỀ TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI 1.
Bối cảnh chung Đất nước ta đang thực hiện sự nghiệp Công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Để thực hiện sự nghiệp này đất nước cần những con người năng động, tích cực, sáng tạo, có thể thích ứng với sự thay đổi và phát triển của xã hội hiện đại. Xuất phát từ yêu cầu đào tạo con người mới của xã hội, ngành Giáo đục và Đào tạo đã từng bước thực hiện việc đổi mới mục tiêu, nội dung và chương trình giáo dục trong nhà trường phổ thông. Sự thay đổi nổi bật có thể kể đến là chương trình được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt gần đây nhất vào năm 2001, được triển khai đại trà từ năm học 2002 — 2003.
Trọng tâm của việc đổi mới chương trình tiểu học mới chính là đổi mới về PPDH. Thế giới đang chuyển sang nên kinh tế trì thức, vì vậy việc đầu tư vào chất xám là cách đầu tư hiệu quả nhất cho sự phát triển và phồn thịnh của các quốc gia. Nhu cầu học tập của người dân ngày càng được nâng cao. Giáo dục ngày càng có vị trí đặc biệt trong xã hội hiện đại.
Sự phát triển của khoa học công nghệ đang mở ra những khả năng và điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng các phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học. : Chúng ta đang sống trong thời đại bùng nổ thông tin cùng với sự thay đổi tăng tốc không chỉ về lượng thông tin. H§ tiểu học hằng ngày được tiếp xúc với các nguồn thông tin đa dang. Những bối cảnh trên đòi hỏi nhà trường cần đổi mới về mục tiêu, nội dung và PPDH.
20 Định hướng đổi mới các PPDH không chỉ là vấn đề đặt ra trong nội bộ ngành giáo dục đào tạo mà đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 (khoá VI), Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIIJ, được thể chế hoá trong Luật Giáo dục và được cụ thể hoá trong Chỉ thị 15 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Điều 28, Khoản 2 của Laật Giáo dục 2005 đã chỉ rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niểm vui, hứng thú học tập cho HS”. Những định hướng đổi mới phương pháp dạy học 2. Phát huy cao độ tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong quá trình lĩnh hội tri thức.
Tính tích cực là đặc điểm vốn có của con người. Tính tích cực ở đây được dùng trái nghĩa với tính thụ động chứ không trái nghĩa với tính điêu cực. Nguồn gốc của tính tích cực là nhu cầu. Nhu cầu của con người luôn là động cơ để thúc đẩy các hoạt động của con người.
Vì vậy khi con người có nhu cầu nhận thức thì nhu cầu này sẽ trở thành động cơ kích thích HS học tập tích cực, chủ động và sáng tạo. Tính tích cực trong học tập được biểu hiện ở các điểm như: hãng hái trả lời câu hỏi của GV, nêu thắc mắc, đặt câu hỏi về những vấn đề chưa hiểu rõ; chủ động vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào cuộc sống, tập trung chú ý vào vấn để đang học, kiên trì thực hiện các bài tập, không nắn trước khó khăn.