Chương I. Giáo dục chuẩn mực ngữ âm tiếng Việt Chương II. Hình thành và phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo Chương II. Dạy trẻ các mẫu câu tiếng Việt Chương IV.
Phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo Chương V. Phát triển ngôn ngữ nghệ thuật cho trẻ mẫu giáo qua thơ và truyện Phần thứ tư: Chuẩn bị khả năng tiền đọc - viết tuổi mầm non Cuối mỗi chương lại có một hệ thống câu hỏi ôn tập và hướng dẫn ôn tập. Phần này sẽ giúp người học định hướng tốt hơn nội dung học tập chính và phương hướng trả lời các câu hỏi trong khi kiểm tra và thi. Phần cuối cuốn sách ngoài đanh mục các tài liệu tham khảo còn có phần phụ lục.
Qua đó, các giáo viên mầm non có thể coi đây là những gợi ý cho việc soạn những bài dạy cụ thể vận dụng vào việc dạy nói cho trẻ. Cuốn giáo trình này dành cho học viên, sinh viên các hệ đào tạo của khoa Giáo dục Mầm non trường ĐHSP Hà Nội. Đồng thời nó cũng là tài liệu tham khảo cho các giáo viên mầm non, các cán bộ quản lí giáo dục, các nhà nghiên cứu và những người quan tâm đến lính vực này. Mặc dù tác giả đã rất cố gắng, song khó tránh khỏi thiếu sót.
Tác giả rất mong các bạn đồng nghiệp, học viên, sinh viên và những người quan tâm góp ý để những lần tái bản sau cuốn sách có chất lượng hơn. TÁC GIÁ Phan thứ nhất NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG | Chương Ì KHÁI QUÁT VỀ NGÔN NGỮ VÀ SỰ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ TRE EM TUÔI MẦM NON I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGÔN NGỮ 1. Bản chất của ngôn ngữ 1.
Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội Ngôn ngữ là một thứ sản phẩm độc quyền của con người. Nó chỉ được hình thành, tồn tại và phát triển trong xã hội loài người, do ý muốn và nhu cầu của con người. Bên ngoài xã hội loài người, ngôn ngữ không thể phát sinh. Người ta đã biết đến câu chuyện nhà sử học Hêđôrốt, hoàng đế Zêlan Utđin Acba đã tiến hành một thí nghiệm để xem một đứa trẻ, không cần ai dạy bảo, có thể biết được đạo của mình hay không? có biết nói tiếng nói của tổ tiên mình và gọi tên các vị thần của dòng đạo mình không? Cách tiến hành: bắt cóc một số trẻ sơ sinh thuộc nhiều dân tộc, tôn giáo, dòng họ khác nhau và đem nuôi cách li trong một toà tháp kín, chỉ cho ăn, uống qua một đường dây.
12 năm sau: những đứa trẻ vẫn lớn lên, nhưng giống như những con thú, và không hề có biểu hiện nào về tiếng nói, tín ngưỡng, tôn giáo cả. Trường hợp khác, năm 1920, ở Ấn Độ, hai bé gái được chó sói nuôi sống trong một cái hang. Do sống giữa thế giới động vật, hai em chỉ có thể phát ra được những tiếng kêu giống động vật chứ không phải là tiếng nói. Sau khi được cứu, dần dần sống giữa thế giới loài người, được dạy và được học, các em cũng sống và dần có thể nói được, nhưng rất khó khăn: sau 4 năm học được 6 từ, và sau 7 năm học được gần 50 từ.
Đến năm 16 tuổi thì có thể nói như một em bé 4 tuổi, và chăng bao lâu sau thì các em không sống được nữa. Hai câu chuyện trên đây chứng tỏ rằng ngôn ngữ không phải là một hiện tượng tự nhiên (như những người theo thuyết tiến hóa tự nhiên của S. Đácuyn khẳng định) và càng không phải là một bản năng sinh vật. Ngoài ra, ngôn ngữ cũng không mang tính di truyền như nước da, màu tóc, màu mắt,.
Nếu một em bé sơ sinh Việt Nam ở bất cứ một đất nước nào trên thế giới, dần dần em sẽ không biết gì về tiếng mẹ đẻ, nhưng lại có thể nói được ngôn ngữ của tập thể mà em có quá trình chung sống và sinh hoạt. Ngôn ngữ là sẵn phẩm của tập thể, nó tôn tại và phát triển gắn liền với sự tồn tại và phát triển của xã hội. Ngôn ngữ không phải là hiện tượng của cá nhân tôi, cá nhân anh, mà nó là của chúng ta, cho nên anh nói tôi mới hiểu, chúng ta hiểu nhau. Về mặt này, đối với mỗi cá nhân, ngôn ngữ giống như một thiết chế xã hội chặt chế - (thói quen nghe, nói, hiểu và tiếp thu và có tính chất bắt buộc đối với mỗi người), được giữ gìn và phát triển trong kinh nghiệm và truyền thống chung của cả cộng đồng.
Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội cũng vì nó phục vụ xã hội với tư cách là phương tiện giao tiếp, nó góp phần thể hiện ý thức xã hội, đặc biệt là ý thức xã hội của một cộng đồng người: Mỗi tập thể khác nhau có một phong tục, tập quán, một cách thức cộng cư khác nhau, và theo đó các từ ngữ để gọi tên các khái niệm tương ứng cũng khác nhau. Thoát khỏi tập thể ấy, những từ ngữ ấy sẽ không được sử dụng và thậm chí không còn tồn tại nữa. Người ta đã bàn đến những nhân tố dân tộc, nhân tố văn hóa, nhân tố truyền thống trong ngôn ngữ. Chúng xuất phát chính từ điểm này.
Chẳng thế mà thông qua ngôn ngữ, người ta có thể hiểu được ý thức của tập thể xã hội ấy. Trong cuốn Hệ ? tưởng Đức, Mác và Ăng ghen đã viết: “Ngôn ngữ là ý thức thực tại, thực tiễn, ngôn ngữ cũng tôn tại cho cả những người khác nữa, như vậy là cũng tôn tại lần đâu tiên cho bản thân tôi nữa. Và cũng như § thức, ngôn ngữ chỉ sinh ra do nhu câu, do cần thiết phải giao dịch với người khác ”. Tóm lại, ngôn ngữ ra đời và tồn tại cùng với sự hình thành và phát triển của xã hội loài người cũng là để phục vụ cho cuộc sống con người trong mọi lĩnh vực: lao động, sản xuất, đấu tranh xã hội, nghệ thuật, giải trí,.
Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt Ngôn ngữ là một hiện tượng không thuộc về cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Không thuộc về cơ sở hạ tầng vì ngôn ngữ không phải là của cải vật chất của xã hội, không phải công cụ mang tính vật thể để tạo ra của cải vật chất cho xã hội, nhưng nó lại là công cụ giao tiếp và tư duy để duy trì và phản ánh mọi hoạt động của con người. Không thuộc về kiến trúc thượng tầng vì ngôn ngữ không giống các yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng khác. Khi cơ sở hạ tầng thay đổi thì những yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng sẽ thay đổi theo, nhưng ngôn ngữ lại không biến đổi.
Ngôn ngữ không có tính giai cấp. Lịch sử hình thành và phát triển ngôn ngữ đã khẳng định chủ nhân của ngôn ngữ chính là quần chúng nhân dân. Vì thế nó ra đời là để phục vụ toàn thể nhân dân, toàn thể xã hội, không phân biệt địa vị, đẳng cấp, tôn giáo, đảng phái. Như vậy nó ứng xử bình đẳng đối với tất cả mọi người trong xã hội, và không bị biến đổi bởi bất cứ một cuộc cách mạng chính trị xã hội nào.
Rõ ràng ngôn ngữ không thuộc cơ sở hạ tầng và không thuộc kiến trúc thượng tâng; nó phát triển hay biến mất không phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng, không giống với kiến trúc thượng tầng mà theo quy luật riêng của nó. Do đó, ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt 2. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu Nói đến hệ thống là nói đến một thể thống nhất gồm nhiều yếu tố có quan hệ và liên hệ lẫn nhau.
Ngôn ngữ là một hệ thống bởi vì nó cũng bao gồm các yếu tố (đơn vị: âm vị, hình vị, từ, câu và các đơn vị trên câu) và các quan hệ giữa những yếu tố đó (quan hệ tuyến tính - ngang và quan hệ liên tưởng - dọc). Ta hiểu khái niệm “tín hiệu” là một sự vật (hoặc một thuộc tính vật chất, một hiện tượng) kích thích vào giác quan của con người, làm cho con người tri giác được và lí giải, suy diễn tới một cái gì đó ngoài sự vật đó (đại diện cho một cái gì đó không phải là chính nó). Tín hiệu có tính hai mặt: mặt biểu hiện vật chất và mặt được biểu hiện. Ví dụ về đèn giao thông: đèn đỏ là một trong những tín hiệu của đèn giao thông, nhưng tách ra, đưa nó vào chùm đèn trang trí thì lại không phải là tín hiệu nữa.
Phải nằm trong hệ thống nó mới có tư cách tín hiệu, nhờ sự đối lập quy ước giữa đèn vàng, đèn xanh. Tín hiệu có các đặc điểm sau: Trước hết, tín hiệu phải có mặt vật chất. Là âm thanh hay nét vẽ. Hai là tín hiệu phải gợi ra hoặc biểu thị cho một cái gì khác với chính nó.
Hay nói khác đi phải có một ý nghĩa nào đó. Thí dụ tiếng chuông hoặc tiếng trống trong trường biểu thị hiệu lệnh vào, ra, tạm nghỉ hoặc kết thúc giờ học; đèn xanh ở cột đèn giao thông biểu thị hiệu lệnh tiếp tục chạy, đèn đỏ biểu thị hiệu lệnh dừng lại,. Tín hiệu phải được các chủ thể tiếp nhận và lí giải được. Muốn thế mối quan hệ giữa vỏ vật chất của tín hiệu (hay cái biểu hiện) và nội dung của tín hiệu (cái được biểu hiện) phải dựa trên sự quy ước có ý thức của con người hoặc xã hội.
Tín hiệu bao giờ cũng phải nằm trong một hệ thống nhất định và có những đặc điểm khác biệt với các yếu tố khác cùng hệ thống. Nó sẽ không còn là tín hiệu khi tách rời khỏi hệ thống. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu vì ngôn ngữ được cảm nhận bằng giác quan hay nói cách khác ngôn ngữ có tính vật chất: Âm thanh chính là hình thức vật chất của ngôn ngữ. Ngôn ngữ đã gợi ra và đại diện cho cái khác với chính nó: ngôn ngữ bao giờ cũng chứa đựng một nội dung, một ý nghĩa nhất định.
Ví du: các âm vị: a, b, c, có giá trị khu biệt ý nghĩa; các đơn vị ngôn ngữ bậc cao (từ, câu, đoạn, văn bản) có muôn vàn ý nghĩa khác nhau. Ngôn ngữ được mọi thành viên trong cộng đồng sử dụng và lí giải: nghĩa là ngôn ngữ là cái có thể nhận thức và lĩnh hội được. Các tín hiệu ngôn ngữ chỉ có giá trị khi nằm trong hệ thống, trong mối quan hệ với yếu tố khác của hệ thống. Tách ra khỏi hệ thống, các tín hiệu ngôn ngữ sẽ mất hết giá trị của mình.
Các tín hiệu ngôn ngữ của bất cứ dân tộc nào cũng thuộc một hệ thống nhất định.