CHƯƠNG I LÍ LUẬN MÁC – LÊNIN VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT I. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA MÔN HỌC LÍ LUẬN MÁC – LÊNIN VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT Là một môn khoa học xã hội, lí luận Mác – Lênin về nhà nước và pháp luật nghiên cứu những hiện tượng xã hội nhà nước và pháp luật. Lí luận về nhà nước và pháp luật sẽ giải đáp những vấn đề chung, cơ bản về những nguyên nhân, điều kiện phát sinh nhà nước và pháp luật; về những quy luật phát triển của nhà nước và pháp luật; thay thế kiểu nhà nước và pháp luật này bằng kiểu nhà nước và pháp luật khác; về bản chất, hình thức, chức năng của nhà nước và pháp luật, đặc biệt là nhà nước và pháp luật XHCN; về mối quan hệ hữu cơ giữa nhà nước và pháp luật. Lí luận về nhà nước và pháp luật là môn khoa học nhập môn đối với luật học.
Nó giới thiệu những khái niệm và phạm trù cơ bản về nhà nước và pháp luật, vì vậy nó mang tính chất triết học khái quát. Đây là môn khoa học về phương pháp luật, có nhiệm vụ trình bày đặc thù của việc áp dụng phương pháp biện chứng Mác-xít vào các hiện tượng nhà nước và pháp luật. Lí luận về nhà nước và pháp luật chiếm một vị trí trung tâm trong hệ thống các môn khoa học chuyên nghiên cứu về những hiện tượng nhà nước và pháp luật. Mác, Ănghen, Lênin là những người đặt cơ sở cho khoa học về lí luận nhà nước và pháp luật.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã nghiên cứu rất sâu những quy luật phát sinh và phát triển của nhà nước và pháp luật. NGUỒN GỐC VÀ BẢN CHẤT CỦA NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, vấn đề nhà nước là vấn đề chủ yếu, vấn đề then chốt trong toàn bộ hệ thống chính trị. Đây cũng là “… vấn đề phức tạp nhất, khó khăn nhất… là vấn đề mà các học giả, các nhà văn, các nhà triết học tư sản đã làm cho rắc rối nhất”. Để có sự hiểu biết đúng đắn về bản chất của nhà nước và pháp luật, theo lời dạy của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, chúng ta phải dựa trên quan điểm lịch sự, để nghiên cứu các hiện tượng nhà nước và pháp luật.
Điều đó có nghĩa là phải bắt đầu bằng việc phân tích nguồn gốc lịch sử, điều kiện lịch sử làm xuất hiện nhà nước và pháp luật, phải nghiên cứu xem nhà nước và pháp luật đầu tiên ra như thế nào, do những nguyên nhân gì? 1. Quan điểm Mác – Lênin về nguồn gốc phát sinh nhà nước và pháp luật Chủ nghĩa Mác – Lê nin coi nhà nước và pháp luật là những hiện tượng lịch sử, không cùng xuất hiện với loài người mà chỉ xuất hiện ở nơi nào, lúc nào mà xã hội đã phân chia thành giai cấp và mâu thuẫn giữa những giai cấp ấy không thể điều hòa được. Trước đây, đã có một thời kì không có nhà nước và pháp luật. Đó là xã hội Cộng sản nguyên thủy.
Xã hội loài người thời kì Cộng sản nguyên thủy Trong xã hội Cộng sản nguyên thủy, lúc đầu còn người sống thành từng bầy lưu động, không lớn và đi lang thang tìm kiếm hoa quả làm thức ăn. Trải qua nhiều thế hệ, loài người đã biết dùng lửa, biết làm ra những công cụ bằng đá, biết tạo ra cung tên và biến nghề săn bắn thành nguồn cung cấp tư liệu sinh hoạt cho mình. Vì trình độ sản xuất lúc đó còn rất thấp, công cụ sản xuất còn rất lạc hậu, thô sơ, người ta không thể đấu tranh riêng lẻ với thiên nhiên và thú dữ. Muốn sống còn, những người cùng chung một huyết tộc tập hợp lại với nhau, cùng lao động tập thể và cùng nhau thừa hưởng những thành quả lao động đó.
Lối sống lao động tập thể này đã dẫn đến chế độ công hữu về tư liệu sản xuất và sản phẩm đã sản xuất ra. Mọi người đều bình đẳng đối với tư liệu sản xuất và địa vị của con người trong xã hội cũng bình đẳng với nhau. Vì trình độ sản xuất còn quá thấp nên người ta không thể sản xuất ra một số sản phẩm nhiều hơn so với nhu cầu của bản thân con người, do đó giữa con người với nhau không có và không thể có sự phân chia giai cấp, không có và không thể có bóc lột. Mọi người trong xã hội nguyên thủy đều làm chung, ăn chung, thậm chí ở chung với nhau không có gì phân biệt nên thời kì này còn được gọi là thời kì “Cộng sản nguyên thủy”.
Hình thức cơ bản về cách tổ chức đời sống của người nguyên thủy là Thị tộc. Thị tộc cũng là đơn vị sản xuất và là hình thức tổ chức kinh tế đầu tiên của loài người. Thị tộc là tập hợp những người, gồm từ hàng chục đến hàng trăm người được tổ chức theo quan hệ huyết thống, có cùng một dòng máu. Là hình thức tổ chức xã hội đầu tiên của loài người, Thị tộc là đặc trưng của chế độ Cộng sản nguyên thủy phát triền.
Về điều này, F. Ăngghen đã từng kết luận: Đây là “… một chế độ chung cho tất cả các người dã man mãi cho đến khi họ bước sáng thời đại văn minh, thậm chí còn sau hơn nữa”. Mỗi thị tộc đều có một Tộc trường đứng đầu, thời chiến còn có Thủ lĩnh quân sự. Tộc trưởng và Thủ lĩnh quân sự do toàn thể thành viê trong Thị tộc bầu ra và có thể bị bãi miễn bất cứ lúc nào.
Tộc trường chỉ là người đại biểu và chấp hành ý chí của toàn thể thành viên trong Thị tộc. Họ không có bất kì đặc quyền nào khác, họ cùng lao động và cùng sinh hoạt chung với các thành viên khác của Thị tộc. Trong Thị tộc không có bất kì cơ quan cưỡng chế nào. Quan hệ giữa các thành viên trong Thị tộc là quan hệ bình đẳng.
Nhiều Thị tộc thống nhất hợp lại với nhau thành Bộ lạc. Mỗi Bộ lạc đều có lãnh thổ riêng, có tên gọi riêng. Các Thị tộc hợp thành Bộ lạc cùng nói chung một ngôn ngữ, cùng có chung một loại thần thánh nhất định. Đứng đầu Bộ lạc là một Thủ lĩnh do các thành viên Bộ lạc bầu ra.
Thủ lĩnh này cùng với các Tộc trưởng và các Thủ lĩnh quân sự của các Thị tộc thành viên hợp thành Hội đồng Bộ lạc để bàn bạc và giải quyết những vấn đề trong nội bộ cũng như những vấn đề quan hệ với các Bộ lạc láng giềng. Các cuộc họp của Hội đồng Bộ lạc được tiến hành công khai để cho bất kì thành viên nào của Bộ lạc cũng có thể tham dự và đóng góp ý kiến. Khi Hội đồng đã ra quyết định thì mọi người đều tuân theo và chấp hành một cách tự giác trên cơ sở tôn trọng các Thủ lĩnh. Mọi sự tranh chấp hay xích mích đều do các bên hữu quan tự giải quyết, hoặc là do tập thể giải quyết một cách ổn thỏa theo phong tục, tập quán má không cần tới bất kì cơ quan bạo lực nào cả.
Như vậy, trong xã hội Cộng sản nguyên thủy, do sức lao động còn thấp kém, công cụ lao động còn thô sơ, cơ sở của lao động sản xuất là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, không có tài sản tư hữu, không có giai cấp nên không có mâu thuẫn giai cấp đối kháng. Do đó mà không có nhà nước và pháp luật. Sự tan rã của chế độ Cộng sản nguyên thủy và sự xuất hiện nhà nước và pháp luật Sức sản xuất trong xã hội nguyên thủy tuy rất chậm chạp những đã phát triển không ngừng. Sự ngừng phát triển của sức sản xuất trong xã hội là nhân tố có tính chất quyết định làm phát sinh chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất: công cụ sản xuất được cải tiến, đặc biệt kĩ thuật luyện sắt được phát minh, người ta đã có thể chế tạo ra đồ sắt, năng suất lao động được nâng cao, của cải làm ra càng dồi dào hơn, có sự dư thừa so với trước.
Cùng với sự phát triển của sức sản xuất, xã hội loài người đã trải qua ba lần phân công lao động. Lần thứ nhất là giữa trồng trọt và chăn nuôi. Lần thứ hai là giữa thủ công nghiệp và nông nghiệp. Lần thứ ba là giữa sản xuất và những người chuyên làm nghề buôn bán (tức là khi thương nghiệp xuất hiện).
Ba lần phân công lao động lớn trong xã hội làm cho trao đổi ra đời và phát triển. công cụ sản xuất được cải tiến, thúc đẩy sản xuất phát triển. Chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất ra đời dần dần thay thế cho độ công hữu về tư liệu sản xuất. Công xã bắt đầu chia thành gia đình nhỏ theo chế độ phụ hệ.
Con người ngày xàng sản xuất ra nhiều hơn của cải để sống, tạo ra tài sản dư thừa. Hiện tượng chênh lệch về của cải đã đưa công xã đến tình trạng phân ra người giàu và người nghèo. Chiến tranh trở thành phương tiện cướp bóc của cải để làm giàu và bắt tù binh làm nô lệ nhằm bóc lột sức lao động của họ. Số người nghèo trong công xã cũng bị đẩy xuống là nô lệ.
Trong Thị tộc xuất hiện người giàu và người nghèo, xuất hiện những người bóc lột và người bị bóc lột, xuất hiện giai cấp chủ nô và nô lệ. Xung đột giữa những tập đoàn người này, giữa những giai cấp này ngày càng gay gắt đưa đến sự tan rã của xã hội Thị tộc. Công xã nguyên thủy không có giai cấp đã bị xã hội có giai cấp (chế độ chiếm hữu nô lệ) thay thế. Bắt đầu từ đấy lịch sử loài người là lịch sử đấu tranh giai cấp.
Lợi ích vật chất của hai giai cấp chủ nô và nô lệ căn bản đối lập nhau. Chủ nô là người chiếm hữu nô lệ, cưỡng bức nô lệ lao động một cách nặng nhọc, chiếm hữu sản phẩm lao động của nô lệ. Còn nô lệ thì lao động quanh năm mà không đủ nuôi thân, hàng loạt nô lệ bị hành hạ đến chết. Nô lệ chẳng những không có quyền lợi nào về mặt kinh tế mà về mặt chính trị họ cũng không có chút đảm bảo và địa vị nào cả.
Chủ nô có quyền bắn hoặc thậm chí giết nô lệ. Tình trạng đó tất nhiên dẫn đến sự phản kháng của nô lệ và như vậy giữa chủ nô và nô lệ đã diễn ra cuộc đấu tranh giai cấp không thể điều hòa được.