Chương I. Khái niệm về dầu mỏ. Chương II. Chương III.
Dầu bôi trơn. 35 Chương IV. Mỡ bôi trơn. gdgstztiddu500608e 56 CHUONGI: KHAI NIEM VE DAU MO.
THANH PHAN VA TINH CHAT HOA LY 1.Thanh phan Dầu mỏ là chất lỏng, nhờn, quánh có mùi thơm và thường có màu nâu, có trường hợp là màu sáng, nhẹ, cũng có trường hợp đặc quánh như keo, màu đen và chim lơ lửng trong nước. Thành phần chính của dầu mỏ là các hợp chất cácbuahydrô. Tính chất Khối lượng riêng của đầu mỏ từ 0,7§ đến 0,92 g/em”. Thành phần hóa học của dầu mỏ rất phức tạp, hầu như trên thế giới không có mỏ dầu nào có thành phần hoàn toàn giống nhau.
Tuy nhiên về mặt tổng quát trong dầu mỏ có hai nhóm hợp. chất cơ ban là các hợp chất cácbuahydrô và các hợp chất phi cácbuahydrô. CÁC TÍNH CHÁT CƠ BẢN CUA CAC LOẠI CÁCBUAHYĐRÔ CÓ. TRONG DAU MO 1, Các hợp chất cácbuahyđro.
Loại này trong thành phần nguyên tử chỉ có 2 nguyên tố các bon và hyđrô. Các hợp chất cácbuahyđro chiếm khoảng 90% ữ 98% trong dầu mỏ, ít nhất cũng, đạt trên 50%. Các hợp chất các buahyđro là mục đích sử dụng chính của dầu mỏ, nó là thành phần của xăng, dầu hỏa, điêzen., dầu bôi trơn. Các hợp chất cácbuahyđro gồm 5 loại chính: ~ Loại n- parafin: (cácbuahyđro no mạch thẳng): (CnHạn; 2) Loại này có đặc điểm dễ bị phân hủy nhiệt, là thành phần làm tăng chỉ số độ nhớt, chỉ số Xêtan , có nhiệt độ đông đặc cao, phân tử có khối lượng càng lớn thì cũng, có nhiệt độ đông đặc càng cao.
~ Loại Izôparafin: (cácbuahyđro no mạch nhánh ); (CnHạn + 2 ) Loại này là thành phẩn làm tăng chỉ số ốctan và có chỉ số độ nhớt cao. ~ Loại Naphtan: (Cycloparafin): (CnHạn) Loại này có tính bền nhiệt cao, nhiệt độ đông đặc thấp và là thành phần làm tăng trị số xêtan, ~ Loại Aromatic: (Cacbuahyđro thơm): (CnHạn - 6 ) Loại này có tính bền nhiệt cao, nhiệt độ đông đặc thấp. ~ Loại tổng hợp: Trong dầu mỏ thường phô biến loại hỗn hợp này Tom lai: Tat cả các loại cácbuahyđro nêu trên đều có mặt trong dầu mỏ và. mỗi loại có các kích thước khác nhau có thể có số nguyên tử C từ Cs đến Cạo.
Các hợp chất phi cácbuahyđrô Loại này trong phân tử còn chứa các nguyên tố như ôxy, Nitơ, lưu huỳnh gọi là các hợp chất của ôxy, nitơ, lưu huỳnh. Ngoài ra còn có các hợp chất cơ kim, các chất nhựa và AS Phanten. Các hợp chất này chủ yếu nằm trong phần madút và cặn Guđrôn. CHƯƠNG II: NHIÊN LIỆU 1.
NHIÊN LIỆU XĂNG 1. Khái niệm Xăng là nhiên liệu lỏng, dễ bốc hơi và bốc cháy có mùi dễ nhận, không hòa tan trong nước. Trọng lượng riêng 0,7+0,775 g/cm”. Trong xăng chứa 86% các bon và 14% hyđrô ngoài ra còn một số tạp chất khác có hàm lượng không đáng kể như ôxy, nit, lưu huỳnh.
Hiện tơiợng kích nỗ Trong quá trình làm việc động cơ có thể xảy ra hiện tượng cháy không bình thường. Hiện tượng kích nỗ và cháy do sự nung nóng hay xảy ra nhất. Chúng làm giảm công suất động cơ và hiệu quả sử dụng nhiên liệu, phá huỷ các chỉ tiết dẫn tới tuổi thọ động cơ bị giảm. Cháy kích nỗ Đây là hiện tượng cháy không bình thường hay gặp nhất và gây hậu quả nghiêm trọng nhất.
Nó xuất hiện khi sử dụng xăng với trị số ốctan thấp hơn quy định hoặc do chế độ làm việc của động cơ không đáp ứng yêu cầu khai thác sử dụng. Cháy kích nỗ diễn ra như sau: Giai đoạn 1 và đầu giai đoạn 2 diễn ra như cháy bình thường, Cuối giai đoạn 2, khi bề mặt của ngọn lửa đã cháy hết phần lớn hỗn hợp công tác, vận tốc cháy chậm lại. Sau đó, đột ngột, phần hỗn hợp công tác chưa cháy bắt đầu cháy rất nhanh với tốc độ rất lớn (2000m/s). Nhiệt độ và áp suất tăng đột ngột, cục bộ.
Sóng xung kích đập vào buồng đốt gây ra tiếng gõ kim loại mạnh. Nhiệt độ nắp máy và thân máy tăng lên, công suất động cơ giảm. Nhiệt độ khí xả giảm, trong khi xả chứa nhiều thành phần chưa cháy triệt để có màu đen. Bản chất và cơ chế của hiện tượng cháy kích nỗ được nhà bác học Ba-khơ giải thích theo thuyết peroxit.
Theo thuyết này các hyđrôcacbon khi ở điều kiện nhiệt độ và áp suất cao sẽ bị ô xy hoátạo ra hợp chất peroxit (-O-O-) dạng alkylperoxit (ROOR). Đây là những hợp chất rất kém bên, dễ bị phân huỷ, tạo ra nhiều gốc tự do có hoạt tính hoá học cao, tỏa ra nhiều năng lượng. Do nhiệt độ và áp suất trong buồng đốt cao, thời gian có mặt trong buồng đốt lâu nên những phần nhiên liệu còn lại ở cuối giai đoạn 2 sẽ tích tụ nhiều hợp chất peroxit. Nếu nồng độ peroxit tích tụ chưa đạt tới giá trị tới hạn thì quá trình cháy sẽ diễn ra bình thường.
Nếu nồng độ peroxit tích tụ trong phần nhiên liệu chưa cháy tại một vị trí ndo đó vượt quá giá trị tới hạn sẽ dẫn tới quá trình phân huỷ peroxit mãnh liệt, toä nhiều nhiệt, thúc đây phản ứng ôxy hoá dây chuyền làm xuất hiện ngọ lửa. phần hỗn hợp công tác quanh điểm A được chuẩn bị kỹ, có các biến đổi trước khi cháy tương tự nhau nên khi có mỗi lửa, bắt cháy và cháy rất nhanh, tạo ra sóng, xung kích. Sóng xung kích này gặp sóng xung kích của bỀ mặt ngọn lửa chính (từ bugi) hoặc cộng hưởng với sóng xung kích phản hồi từ thành buông đốt kích thích làm cho toàn bộ phần nhiên liệu chưa cháy sẽ cháy gần như tức thời. Cháy do sự nung nóng.
Trong thời gian hoạt động của động cơ, có một số bguyên nhân dẫn đến nhiệt độ trong xi lanh lên cao, một số bề mặt trở nên nóng sáng trở thành môi lửa cho hỗn hợp công tác bắt cháy và cháy. Hiện tượng cháy này xảy ra tuỳ tiện, không phụ thuộc vào bugi đánh lửa nên phá vỡ hoạt động bình thường của động cơ, tổn hao nhiên liệu, giảm công suất. ở đây, người ta phân ra hai hiện tượng cháy: Hiện tượng cháy nhờ các bề mặt nóng sáng như các hạt muối bị làm nóng trở thành mỗi lửa. Hiện tượng cháy này có thể xảy ra khi đã ngất hệ thống điện của động cơ.
Cháy do sự nung nóng nếu không được khắc phục kịp thời sẽ dẫn tới cháy kích nổ, tác hại sẽ lớn hơn nhiều. Trị số ốc tan 'Khả năng nhiên liệu chống lại sự xuất hiện kích nỗ hay gọi là độ chống kích nổ được đánh giá bằng trị số ốc tan. Trị số ốc tan của nhiên liệu là độ chứa (theo thể tích) lượng izô ốc tan trong một hỗn hợp nhân tạo gồm izô Ốc tan và ghép tan theo độ chống kích nỗ tương đương với nhiên liệu đem thứ. Trị số ốc tan là một giả định, nó được ghỉ trong tắt cả các nhãn hiệu xăng.
Trị ố ốc tan đặc trưng cho khả năng chống kích ô của nhiên liệu động cơ. Đối với độgn cơ 4 kỳ ở cuối gia đoạn nén, hỗn hợp (Nhi liệu + không khí) trong xi lanh sẽ được bugi tỉa lửa đễ đốt cháy. Quá trình cháy mặc dù xảy ra rất nhanh. (bình thường từ 15 đến 40 m/s), nhưng không đồng thời trong toàn bộ xỉ lanh mà cháy lan truyền theo từng lớp, phân chia không gian của xi lanh thành hai phần: phía trong ngọn lửa bao gồm các sản phẩm đã cháy và phía ngoài ngọn lửa bao.
gồm các loại cacbua hydrô (C-H) đang bị ôxy hoá sâu sắc ở nhiệt độ va áp suất cao, tạo ra các loại hợp chất trung gian không bền, gây ra các phản ứng chuỗi làm cho các C-H tự ôxy hoá sâu sắc thêm và tưh bốc cháy khi mặt lửa chưa lan truyền tới. Khi tốc độ lan truyền quá lớn (hơn 40 mí), thì quá trình cháy xảy ra gần như đồng thời ngay sau khi tia lửa điện của bugi phát cháy, hiện tượng đó được gọi là cháy kích nổ. Hiện tượng cháy kích nổ sẽ gây nên các sóng xung kích va đập mạnh vào thành xi lanh làm xuất hiện tiếng gõ kim loại khác thường, làm tổn hao. công suất động cơ, thiết bị sớm bị hư hỏng.
'VỀ nguyên tắc, trị số Ốctan cảng cao cảng tốt, tuy nhiên phải phù hợp với từng loại động cơ. Xăng có trị số ốctan từ 80 đến 83 (tính theo phương pháp môtơ - MON) thường được sử dụng cho các loại xe có tỷ số nén nhỏ hơn 7,5. Xăng có trị số Ốctan từ 90 đến 95 (tính theo phương pháp nghiên cứu - RON) thường được sử dụng cho các loại xe có tỷ số nén từ 7,5 đến 9,5. Xăng có trị số ốctan lớn hơn 95 (tính theo phương pháp nghiên cứu - RON) là các loại xăng đặc biệt, cao cấp, thường được sử dụng cho các loại xe có tỷ số nén cao trên 9,5 như các loại xe đua, xe ôtô cao cấp, xe đặc chủng.
Nhu vậy, quá trình cháy trong động cơ bị ảnh hưởng bởi hai yếu tố: thiết kế chế tạo động cơ và chất lượng nhiên liệu (xăng). Trang thái lý tưởng là hỗn hợp (Nhiên liệu + không khí ) được đốt và bề mặt ngọn lửa được lan truyền đều qua không gian của buồng đốt. Sự gia tăng nhiệt độ lớn sẽ gây nên sự gia tăng áp suất tương ứng, điều đó sẽ làm lan nhanh đến phần biên của hỗn hợp (Nhiên liệu + không khí) chưa bị cháy trong xi lanh (phần này còn được gọi là vùng khí cuối ~ end gas Zone). Những biến đổi hoá học xây ra sau đó đã tạo ra sự peroxit hoá rất nhạy cảm với nhiệt độ.
Các peroxit đó sẽ tự động bốc cháy nếu như nồng độ tới hạn của chúng bị vượt quá trước khi mặt lửa lan đến. Quá trình đó như đã nói là sự cháy. Xu hướng chảy kích nổ của xăng sẽ gia tăng khi loại động cơ đang sử dụng có tỷ số nén cao hơn, tải trọng, nhiệt độ hỗn hợp, áp suất và nhiệt độ môi trường cũng cao hơn và thời gian điểm hoả sớm hơn. “Xu hướng cháy kích nỗũe được giảm bớt khi gia tăng tốc độ động cơ, chế độ chảy rồi của hỗn hợp (Nhiên liệu + không khí) và độ âm.
'Khi động cơ hoạt động, xu hướng cháy kích nỗ sẽ xảy ra lớn nhất nếu tỷ lệ giữa nhiên liệu và không khí bằng 1/15,4 trong hỗn hợp cháy. Xu hướng cháy kích nỗ giảm đi với hỗn hợp hoặc là nghèo hoặc là giàu nhiên liệu. Trong bắt kỳ điều kiện hoạt động nào, động cơ chỉ có thể đạt được hiệu năng cao nhất khi sử dụng loại xăng không gây nên sự cháy kích nỗ.