Chương I. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA CẢM QUAN THỊ GIÁC Chương này trang bị tổng quan về nhận thức, cường độ lực thị giác, cấu trúc ẩn của thị giác trên mặt phẳng. Ngoài ra còn có trường nhìn của mắt, vị trí, độ rõ độ mờ, hướng, sự chuyển động của một đối tượng nào đó. Nhằm giúp cho sinh viên nhận biết hoặc hiểu về nguyên tắc của một vật, một bố cục chung trong một tác phẩm.
LỰC THỊ GIÁC 1. Tổng quan về nhận thức thị giác Trong cuộc sống, một trong số những thuộc tính quan trọng nhất của thế giới vật chất là sự tồn tại của không gian ba chiều. Con người có thể trực tiếp cảm nhận không gian ba chiều thông qua các giác quan như thị giác, xúc giác. Trong đó thị giác thu nhiều thông tin nhất, nhưng để cảm nhận được không gian thị giác cần có những điều kiện nhất định như ánh sáng, màu sắc.
Ánh sáng được chiếu vào vật thể, hình thể, từ vật thể, hình thể, ánh sáng phản xạ trực tiếp vào mắt thông qua hệ thống thần kinh thị giác mà mắt người có thể nhận biết được hình thể và vật thể đó. Ánh sáng làm tăng hiệu quả nhận thức vật thể và hình thể cao hay thấp, độ chính xác. Chính vì vậy hiệu quả của vật tạo hình phụ thuộc vào ánh sáng rất cao. Khái niệm lực thị giác Trong trạng thái bình thường mắt thường luôn có xu hướng tìm kiếm một đối tượng theo sự chỉ đạo của bộ não.
Ví dụ tìm một người quen, tìm một thứ bị mất, tìm đường để đi. tuy nhiên cũng có nhiều tình huống khác như một người mặc đồ màu đỏ trong một nhóm mặc đồ đen ngay lúc đó thị giác thu hút bởi người mặc đồ màu đỏ, hay tương tự cho cây có tán lá màu vàng trong một khu rừng màu xanh thị giác bị thu hút với tán cây màu vàng. nếu hỏi lý do vì sao thị giác bị thu hút trường nhìn kết quả là có sự khác biệt với nhóm còn lại về màu sắc, kích thước, tạo điểm nhấn về màu sắc nên thu hút thị giác và đối tượng trở nên được chú ý. Lực thị giác tồn tại ở cả hai dạng tâm lý và vật lý.
Mắt sẽ thấy hai dạng tâm lý này khi đặt bên cạnh hai tờ giấy A và B lên trên hai tờ giấy C và D. Trên tờ C đặt 3 hoặc 4 hình tròn đen có khoảng cách nhỏ hơn kích thước của chúng. Ở tờ giấy D cũng đặt chính những hình đó, nhưng các hình tròn đen có khoảng cách giữa chúng lớn hơn kích thước của chúng rất nhiều. Rõ ràng là các hình ở tờ C có cảm giác chúng là một tập hợp, quan hệ gắn bó với nhau.
Ở tờ D bố cục rời rạc, không phải là một tập hợp. Các hình ở tờ C có một lực vô hình nào đó gắn chúng lại với nhau. Đó chính là sự liên kết của các trường thị lực, của các hình tròn đen tồn tại độc lập. Hình tròn đen ở hình 1.2 không chỉ sinh ra một lực thị giác, mà còn tỏa ra xung quanh nó một trường lực hấp dẫn có bán kính gấp đôi bán kính của nó, ví như từ trường nam châm.
Mức độ lớn nhỏ của trường lực đó được gọi là cường độ lực thị giác. Chƣơng I: Một số đặc điểm của cảm quan thị giác 2 3. Định nghĩa Lực thị giác là một khái niệm dùng để chỉ sự chú ý của mắt đến một đối tượng trong một không gian bất kỳ. Ví dụ: Ví dụ 1: Khi nhận một hộp quà, mắt sẽ tập trung chờ đợi một món quà, tuy nhiên khi mở ra bên trong lại xuất hiện một hộp trống rỗng làm thị giác bị hụt hẫng bởi hai yếu tố: - Tâm lý đợi chờ.
- Sự chú ý của mắt không có đối tượng để đặt vào. Kết luận: Đó là sự mất cân bằng giữa sức căng thẳng của mắt và lực hút của đối tượng thị giác. Ví dụ 2: Đặt 2 tờ giấy 1 và 2 trước mặt người quan sát Hình 1. Tờ giấy màu xanh Hình 1.
Tờ giấy xanh có hình tròn đen Người quan sát sẽ tập trung chú ý vào hình 2 có hình tròn màu đen, do bố cục này đã sinh ra một lực tương ứng với sức căng của mắt gọi đó là lực thị giác. CƢỜNG ĐỘ LỰC THỊ GIÁC Mỗi đối tượng hình thể sinh ra một trường lực thị giác tương ứng với kích thước của chính hình thể đó. Khi các đối tượng hình thể này đặt cạnh nhau sẽ tương tác trường lực với nhau, chúng tương tác ra sao được thể hiện ví dụ sau: Vẽ 3 hình bất kỳ và đặt cách nhau một khoảng cách mỗi hình tầm 1.3) và tiếp tục vẽ 3 hình khác nhau đặt cách nhau 3cm giữa các hình (hình 1.3 sự sắp xếp bố cục chặt chẽ và có sự liên kết, còn hình 1.4 bố cục đơn điệu và rời rạc giữa các hình với nhau. Những cảm giác trên là do mức độ lớn nhỏ khác nhau giữa các hình.
Cƣờng độ lực thị giác mạnh Hình 1. Cƣờng độ lực thị giác yếu Chƣơng I: Một số đặc điểm của cảm quan thị giác 3 Nếu gọi độ lớn của hình vẽ là a, khoảng cách giữa các hình là b, khi a>b xảy ra hiện tượng liên kết thị giác, có một lựa chọn vô hình nào đó gắn kết các hình vẽ lại với nhau tạo ra một lực thị giác lớn hơn, thu hút mắt người xem như hình 1. Khi a<b các trường lực của hình vẽ tồn tại độc lộc và cho cảm giác rời rạc nên hình 1.4 không thu hút trường lực thị giác người xem bằng hình 1. Như vậy mức độ lớn nhỏ của trường lực gọi là cường độ lực thị giác.
Kết luận: - Khoảng cách giữa các hình hay kí hiệu thị giác lớn hơn kích thước của chúng thì cường độ lực thị giác yếu. - Khoảng cách giữa các hình hay kí hiệu thị giác nhỏ hơn kích thước của chúng thì cường độ lực thị giác mạnh. - Cường độ lực thị giác phụ thuộc vào kích thước và mật độ xuất hiện của các kí hiệu thị giác. Khi ứng dụng lực thị giác vào các thiết kế tạo hình trong mỹ thuật ứng dụng, mỗi tác giả phải lưu ý cân nhắc đến mục đích thiết kế, phải sắp xếp bố cục chính phụ giữa các mảng miếng trong hình với nhau sao cho phù hợp trong một tổng thể.
Chính những sắp xếp hợp lý giúp tạo hiệu ứng cao trong mỗi thiết kế của từng cá nhân, tạo cảm giác hòa nhịp trong mắt người xem, giúp thành công hơn trong cường lực thị giác khi ứng dụng vào thực tế. CẤU TRÚC ẨN CỦA THỊ GIÁC TRÊN MẶT PHẲNG Tăng với kích thước lớn hơn cho xuất hiện ở các vị trí khác nhau của mặt phẳng, chúng sẽ cho cảm giác khác nhau về quan hệ giữa đối tượng và mặt phẳng chứa: Khi hình tròn đen xuất hiện ở giữa trung tâm hình học của mặt phẳng của hình, mắt như thấy được giữ chặt vào trọng tâm, gắn vào mặt phẳng và cân bằng thu hút thị giác. Khi đặt một hình tròn lệch ra khỏi tâm, có xu hướng rời khỏi mặt phẳng, hình tròn đen có kích thước tương đối lớn. Rõ ràng là có một cấu trúc ẩn nào đó của mặt phẳng đang chi phối trường nhìn của thị giác.
Cấu trúc này không đều ở mọi vị trí và gọi là “Sơ đồ cấu trúc của một hình vuông”. Một hình được gọi là vuông khi có 4 cạnh bằng nhau. Các cạnh làm thành góc vuông từng đôi một, quan trọng hơn là trục thẳng đứng và nằm ngang của hình trùng với phương thẳng đứng và nằm ngang của đối tượng quan sát. Nếu đặt hai đường chéo trùng với phương thẳng đứng và nằm ngang, có cảm giác nghi ngờ đó là hình vuông xiên hay hình thoi đứng.
Như vậy, sơ đồ cấu trúc của hình vuông được xác định trước hết bằng hai trục thẳng đứng nằm ngang đi qua tâm hình vuông, gọi đó là trục cấu trúc của hình vuông. Sau đó là hai đường chéo, bốn góc và bốn đường biên, sau cùng là tâm hình vuông. Cấu trúc này chi phối hầu hết các liên kết giữa mặt phẳng và các tín hiệu thị giác có Chƣơng I: Một số đặc điểm của cảm quan thị giác 4 trên mặt phẳng, có thể gọi đó là cấu trúc ẩn của lực thị giác trên mặt phẳng (hình 1. Hình tròn đặt trọng tâm Hình 1.
Hình tròn đặt gần mép hình IV. TRƢỜNG NHÌN CỦA MẮT 1. Trƣờng thị giác Đối với mắt người, khi xuất hiện nhiều kí hiệu thị giác cùng một lúc trong một giới hạn nhất định có thể nhìn thấy rõ. Ví dụ khi xem một video có phụ đề nhưng thị giác vẫn có thể quan sát những diễn biến, thái độ, cử chỉ nhân vật trong video.
Hay khi xem một video ca nhạc, thường thị giác chỉ tập trung vào ca sĩ hát chính là chủ yếu, mặc dù thị giác vẫn có thể quan sát rõ các vũ công đang làm gì, nhảy múa có đúng nhịp hay mắc lỗi hay không. Như vậy, do rộng, hẹp, cao, thấp mà mắt có thể nhìn thấy chính xác trường thị giác. Khái niệm Trường thị giác là giới hạn mà mắt người có thể nhìn thấy trong một không gian bất kỳ nào đó khi quan sát một đối tượng. Giới hạn trường thị giác Mắt người luôn giới hạn trong một khoảng nhất định.
Và được phân ra làm hai giới hạn trên dưới, trái phải. Trƣờng thị giác quy ƣớc Trong các giới hạn trên - dưới, trái - phải, trường thị giác của mắt người được xác định bằng một hình ê líp. Nhưng theo các nhà nghiên cứu để nhìn rõ hiệu thị giác thì cần phải thu hẹp trường thị giác thuật lại và đề xuất một trường thị giác mới, gọi là trường thị giác quy ước. Trường thị giác quy ước được xác định bởi một hình chóp đều có đáy là một hình chóp tròn và góc ở đỉnh bằng 30° (hình 1.
Như vậy trường thị giác quy ước có góc đỉnh cố định bằng 30° còn độ rộng đáy tỉ lệ thuận với chiều cao của hình chóp. Nếu khoảng cách giữa mắt người nhìn tới hiệu thị giác càng gần thì trường thị giác càng nhỏ và ngược lại. Việc ứng dụng trường thị giác quy ước rất quan trọng đối với thiết kế tạo hình trong một không gian quy mô lớn, giúp người thiết kế xác định được điểm đặt hợp lý các vị trí nội dung, biểu tượng trên trang quảng cáo, hay điểm nhấn trong một không Chƣơng I: Một số đặc điểm của cảm quan thị giác 5 gian sáng tác. Thông thường những nội dung chính người thiết kế luôn đặt vị trí trọng tâm của trường nhìn.