CHƯƠNG 1. VAI TRÒ, CHỨC NĂNG, ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP HẠCH TOÁN KẾ TOÁN Mã chương: MH 13 – 01 Giới thiệu: Để quản lý được các hoạt động của mình với mục đích ngày càng mang lại hiệu quả lớn, con người cần phải có những thông tin toàn diện, chính xác và kịp thời về tình hình và kết quả hoạt động. Thông tin là một nhu cầu khách quan, cần thiết để quản lý mọi mặt hoạt động của con người, đặc biệt đối với lĩnh vực sản xuất càng có ý nghĩa Mục tiêu: - Trình bày được khái niệm, đặc điểm, nhiệm vụ và yêu cầu của kế toán. - Xác định được đối tượng của hạch toán kế toán.
- Phân loại được toàn bộ tài sản của đơn vị kế toán. - Phân tích được khái niệm của từng phương pháp trong hệ thống phương pháp kế toán. Vai trò, chức năng, nhiệm vụ của hạch toán kế toán.1 Vai trò của hạch toán kế toán trong nền kinh tế thị trường Hạch toán kế toán và tính tất yếu khách quan của hạch toán kế toán Hạch toán trong nền kinh tế đã có một lịch sử tồn tại gần 6. Cùng với sự phát triển của xã hội, hạch toán ngày càng phát triển phong phú, đa dạng vè nội dung, hình thức và phương pháp.
Hạch toán lúc đầu đơn thuần chỉ là một công cụ được con người sử dụng chủ yếu để đối phó với các điều kiện khăc nghiệt, rất bấp bênh của cuộc sống, càng về sau hạch toán được xem như một phương tiện không thể thiếu được để tồn tại trong cạnh tranh. Phân biệt các loại hạch toán: Muốn có được nguồn thông tin về hoạt động của mình, con người cần phải thực hiện đồng thời các quá trình: quan sát, đo lường, tính toán, ghi chép. + Quan sát nhằm ghi nhận sự tồn tại của những đối tượng cần được khai thác thông tin. + Đo lường nhằm lượng hoá các đối tượng cần thông tin qua các thước đo phù hợp, qua đo lường sẽ xác định số lượng trọng lượng, thể tích,.
của đối tượng. + Tính toán là quá trình sử dụng các phép tính và các phương pháp tính để tiếp tục lượng hoá các đối ưtượng cần thông tin thành những số lệu tổng hợp hoặc các chỉ tiêu tổng hợp với các yêu cầu về thu thập, xử lý, tổng hợp và cung cấp thông tin. + Ghi chép là việc thể hiện vào giấy tờ, sổ sách qui định – những nội dung thông tin nhằm tạo nên các căn cứ xử lý và tổng hợp thông tin cũng như cung cấp thông tin cần thiết. Thực hiện 4 quá trình nêu trên một cách đồng thời gọi chung là thực hiện công tác hạch toán.
Hạch toán bao gồm các bộ phận: Hạch toán nghiệp vụ kỹ thuật, hạch toán thống kê và hạch toán kế toán. 1 a/ Hạch toán nghiệp vụ kỹ thuật là dạng hạch toán cung cấp những thông tin rời rạc của từng loại hoạt động mang tính chất kỹ thuật sản xuất. Tuỳ theo tính chất của đối tượng cần thông tin mà hạch toán nghiệp vụ kỹ thuật sử dụng thước đo phù hợp. b/ Hạch toán thống kê (gọi tắt là thống kê) là dạng hạch toán cung cấp những thông tin số lớn trong mối quan hệ với mặt chất của chất lượng cần thông tin gắn liền với thời gian và địa điểm cụ thể nhằm rút ra xu thế và quy luật vận động, phát triển của đối tượng.
c/ Hạch toán kế toán (gọi tắt là kế toán) là loại hạch toán phản ánh một cách thường xuyên liên tục và có hệ thống toàn bộ các hiện tượng kinh tế tài chính phát sinh trong đơn vị thông qua 3 thước đo: tiền, hiện vật và thời gian lao động, trong đó thước đo bằng tiền là chủ yếu.2 Chức năng và nhiệm vụ của hạch toán kế toán Xuất phát từ định nghĩa kế toán trên, có thể thấy rằng kế toán có 2 chức năng liên quan đến công tác quản lý, đó là: chức năng phản ánh và chức năng giám đốc.1 Chức năng của hạch toán kế toán - Chức năng phản ánh (hay còn gọi là chức năng thông tin): Thể hiện ở chỗ kế toán thực hiện công việc theo dõi toàn bộ các hiện tượng kinh tế tài chính – phát sinh trong quá trình hoạt động của đơn vị thông qua việc tính toán, ghi chép phân loại, xử lý và tổng kết các dữ liệu có liên quan đến quá trình hoạt động và sử dụng vốn của đơn vị. - Chức năng giám đốc (chức năng kiểm tra): Thể hiện ở chổ thông qua số liệu đã phản ánh, kế toán sẽ nắm được một cách có hệ thống toàn bộ quá trình và kết quả hoạt động của đơn vị, làm cơ sở cho việc đánh giá đúng đắn, kiểm soát chặt chẽ tình hình chấp hành luật pháp, việc thực hiện các mục tiêu đã đề ra nhằm giúp cho hoạt động ngày càng mang lại hiệu quả cao. Mối liên hệ giữa các chức năng: chức năng phản ánh và chức năng giám đốc có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, thể hiện như sau: chức năng phản ánh là đối tượng của chức năng giám đốc, chức năng giám đốc là công cụ đôn đốc chức năng phản ánh được chính xác, rõ ràng và đầy đủ hơn. Với các chức năng trên kế toán đã trở thành công cụ hết sức quan trọng trong công tác quản lý của bản thân đơn vị tổ chức kế toán và các chức năng này cũng rất cần thiết đối với các đối tượng khác có quyền lợi trực tiếp hoặc gián tiếp đối với hoạt động của đơn vị tổ chức kế toán như: người chủ sở hữu vốn của đơn vị, người cung cấp tín dụng, hàng hoá – dịch vụ, các nhà đầu tư, các cơ quan tài chính hoặc cơ quan chức năng khác.2 Nhiệm vụ của hạch toán kế toán Theo điều 5 Luật kế toán, nhiệm vụ của Kế toán được đặt trong một cách tổng quát như sau: - Thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán theo đối tượng và nội dung công việc kế toán, theo chuẩn mực và chế độ kế toán.
- Kiểm tra giám sát các khoản thu chi tài chính, các nghĩa vụ thu, nộp, thanh toán nợ; kiểm tra việc quản lý, sử dụng tài sản; phát hiện và ngăn ngừa các hành vị vi phạm pháp luật để tài chính, kế toán. - Phân tích thông tin, số liệu kế toán; tham mưu, đề xuất các giải pháp phục vụ yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán. - Cung cấp thông tin, số liệu kế toán theo quy định của pháp luật.3 Phân loại hạch toán kế toán Trên cơ sử văn bản Luật quy định có thể phân tích nhiệm vụ của kế toán theo từng loại công tác kế toán. Xuất phát từ yêu cầu quản lý và cung cấp thông tin cho các đối tượng khác nhau, kế toán được chia thành kế toán quản trị và kế toán tài chính.
Mỗi loại đảm nhận những nhiệm vụ cụ thể khác nhau: • Nhiệm vụ của kế toán tài chính là theo dõi (quan sát), tính toán và phản ánh tình hình về tài sản, nguồn vốn cũng như tình hình và kết quả hoạt động của đơn vị nhằm phục vụ cho các đối tượng sử dụng thông tin bên trong và bên ngoài đơn vị, nhưng chủ yếu là các đối tượng bên ngoài. Ké toán tài chính cung cấp những thông tin về sự kiện đã xảy ra nên phải có độ chính xác và tin cậy cao. Mặt khác những thông tin này được thu thập trên cơ sở chứng từ và các bằng chứng thực tế, do vậy thong tin do kế toán tài chính cung cấp có tính pháp lệnh. • Nhiệm vụ của kế toán quản trị là qua số liệu kế toán tài chính, xử lý và cung cấp thông tin về quá trình hình thành, phát sinh chi phí, tình hình quản trị tài sản, nguồn vốn và các quá trình hoạt động nhằm hỗ trợ đắc lực cho nhà quản lý của đơn vị trong việc hoạch định, kiểm soát và quyết định.
Kế toán quản trị có đặc điểm cơ bản là không những phản ánh những sự kiện đã xảy ra, mà còn phản ánh những sự kiện đang và sẽ xảy ra trong tương lai. Thông tin của kế toán quản trị cung cấp gắn liền với từng bộ phận chức năng hoạt động của đơn vị. Mặt khác kế toán quản trị có tính linh hoạt và thích ứng cao. Nhiệm vụ của kế toán tài chính và kế toán quản trị tuy có khác nhau nhưng đều phục vụ chung cho mục đích của người sử dụng kế toán.
Vậy, có thể tóm tắt nhiệm vụ của hạch toán kế toán nói chung là cung cấp thông tin mang tính xuyên suốt nhằm phản ánh thông tin về các sự kiện kinh tế đã xảy ra, đang xảy ra và sắp xảy ra trong một đơn vị đến các đối tượng quan tâm. Một số khái niệm và nguyên tắc kế toán Một số khái niệm và những nguyên tắc cơ bản của kế toán được chấp nhận chung trong công tác kế toán như: định giá các loại tài sản, ghi chép sổ sách, phương pháp soạn thảo các báo cáo tài chính. Nhằm bảo đảm sự dễ hiểu, đáng tin cậy và có thể so sánh của các thông tin kế toán. Những khái niệm và nguyên tắc này được rút ra từ kinh nghiệm thực tiễn của những người thực hiện công tác kế toán kết hợp với quá trình nghiên cứu của các cơ quan chức năng như Bộ Tài chính, Tổng cục Thống kê, các chuyên gia kinh tế… Sau đó được mọi người thừa nhận như là một quy luật và trở thành một trong những vấn đề có tính pháp lệnh của công tác kế toán thống kê và được triển khai áp dụng thống nhất ở tất cả các đơn vị kinh tế trong phạm vi quốc gia.
Sau đây là một số khái niệm và những nguyên tắc cơ bản: 2.1 Một số khái niệm và giả định 2.1 Khái niệm đơn vị kế toán Khái niệm này tương đồng với khái niệm đơn vị kinh doanh. Theo khái niệm này, thông tin tài chính được phản ánh cho một đơn vị kế toán cụ thể. Mỗi đơn vị kinh tế riêng biệt phải được phân biệt là một đơn vị kế toán độc lập, có bộ báo cáo tài chính của riêng mình. Khái niệm đơn vị kế toán đòi hỏi các báo cáo tài chính được lập chỉ phản ánh các thông tin về tình hình tài chính của đơn vị kế toán mà không bao hàm thông tin tài chính về các chủ thể kinh tế khác như tài sản riêng của chủ sở hữu hay các thông tin tài chính của các đơn vị kinh tế độc lập khác.
Nói cách khác khái niệm đơn vị 3 kế toán quy định giới hạn về thông tin tài chính mà hệ thống kế toán cần phải thu thập và báo cáo.