CHƯƠNG 1: VAI TRÒ, CHỨC NĂNG, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP HẠCH TOÁN KẾ TOÁN 1. Vai trò, chức năng, nhiệm vụ của hạch toán kế toán. Hạch toán kế toán và tính tất yếu khách quan của hạch toán kế toán Lịch sử tiến hóa của xã hội loài người đã khẳng định: sản xuất ra của cải vật chất là nhu cầu tất yếu khách quan của xã hội loài người. Ngay từ thời cổ xưa, con người của xã hội nguyên thuỷ đã nhận thức được rằng muốn duy trì sự sống và phát triển thì phải lao động sản xuất, để tạo ra những vật dụng cần thiết, thức ăn và đồ mặc… Quá trình hoạt động sản xuất đó được diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại không ngừng và hình thành nên quá trình tái sản xuất xã hội.
Khi thực hiện quá trình tái sản xuất xã hội, con người luôn có ý thức xem xét hao phí lao động đã bỏ ra là bao nhiêu và kết quả thu được là cái gì, kết quả đó sẽ được phân phối như thế nào. Tức là họ đã quan tâm đến chi phí đầu vào và kết quả đầu ra của các quá trình hoạt động kinh tế trong quá trình tái sản xuất. Đồng thời con người cũng luôn có ý thức và mong muốn quá trình tái sản xuất được thực hiện nhịp nhàng và đạt hiệu quả cao. Tất cả những mối quan tâm đó của con người đối với quá trình tái sản xuất đã đặt ra nhu cầu tất yếu phải theo dõi, quan sát, lượng hoá, ghi chép, lưu trữ dữ liệu về các hoạt động kinh tế trong quá trình tái sản xuất tức là phải thực hiện chức năng quản lý quá trình tái sản xuất.
Để quản lý được các hoạt động kinh tế trong quá trình tái sản xuất, cần phải có những thông tin hữu ích - được thu thập, xử lý và kiểm tra thông qua quá trình thực hiện việc quan sát, đo lường, tính toán và ghi chép các hoạt động đó. Quan sát các hiện tượng và quá trình kinh tế là hoạt động đầu tiên của quá trình quản lý nhằm định hướng, phản ánh, giám đốc quá trình tái sản xuất. Đo lường là việc biểu hiện các hao phí trong quá trình sản xuất của cải, vật chất đã sản xuất ra bằng các loại thước đo thích hợp. Có ba loại thước đo được sử dụng để đo lường các đối tượng của quá trình tái sản xuất, đó là thước đo hiện vật, thước đo lao động và thước đo giá trị.
Thước đo hiện vật là sử dụng đơn vị đo lường vật lý tuỳ thuộc vào tính tự nhiên của đối tượng được tính toán như: trọng lượng ( kg, tạ, tấn …); diện tích ( ha, m2. Thước đo hiện vật cho phép hạch toán có thể đo lường chính xác từng đối tượng riêng biệt, nhưng không thể sử dụng nó để xử lý thông tin ban đầu thành thông tin tổng hợp của nhiều hiện tượng. Thước đo thời gian lao động là sử dụng các đơn vị về thời gian như ngày công, giờ công để đo lường các đối tượng hạch toán. Thước đo thời gian lao động thường chỉ được sử dụng để đo lường hao phí lao động sống, tính toán các chỉ tiêu về năng suất lao động trong các doanh nghiệp, các tổ chức.
Thước đo thời gian lao động giúp xác 2 định được năng suất lao động của công nhân, làm căn cứ tính lương phải trả cho công nhân. Thước đo thời gian lao động thường được sử dụng với thước đo hiện vật để giám sát số lượng sản phẩm công nhân sản xuất ra. Thước đo giá trị (thước đo tiền tệ) là thước đo sử dụng rộng rãi nhất trong công tác quản lý. Thước đo tiền tệ là sử dụng đơn vị tiền tệ để đo lường các chỉ tiêu kinh tế, các loại tài sản, hàng hoá, vật tư của đơn vị.
Thước đo giá trị có ưu điểm là giúp cho hạch toán có thể tổng hợp được thông tin từ các thông tin ban đầu về các đối tượng riêng biệt. Mỗi thước đo đều có ưu, nhược điểm riêng. Để có được thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời phải kết hợp cả ba thước đo, sẽ phản ánh và giám đốc toàn diện các chỉ tiêu về sản lượng, chất lượng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị. Tính toán là việc sử dụng các phương pháp tính toán, tổng hợp, phân tích để tính toán những chỉ tiêu kinh tế cần thiết.
Qua đó có thể đánh giá được mức độ thực hiện và hiệu quả của hoạt động kinh tế. Ghi chép là quá trình thu nhận, xử lý và ghi lại tình hình và kết quả các hoạt động kinh tế đã thực hiện theo trình tự và phương pháp nhất định. Từ đó mà thực hiện chức năng thông tin và kiểm tra các quá trình kinh tế trong từng thời gian, từng địa điểm phát sinh cũng như suốt một thời kỳ nào đó. Hệ thống quan sát, đo lường, tính toán và ghi chép các hoạt động kinh tế của con người, nhằm thực hiện chức năng thông tin và kiểm tra các hoạt động kinh tế trong quá trình tái sản xuất xã hội được gọi là Hạch toán.
Sự cần thiết phải giám đốc và quản lý quá trình hoạt động kinh tế không phải chỉ là nhu cầu mới được phát sinh gần đây mà thực ra đã phát sinh rất sớm trong lịch sử nhân loại và tồn tại trong các hình thái kinh tế xã hội khác nhau. Xã hội loài người càng phát triển, con người càng quan tâm đến hoạt động sản xuất tức là càng quan tâm đến thời gian lao động bỏ ra và kết quả sản xuất đạt được. Các-Mác đã viết: “Trong tất cả các hình thái kinh tế xã hội, người ta đều phải quan tâm đến thời gian cần dùng để sản xuất ra tư liệu tiêu dùng, nhưng ở mức độ quan tâm có khác nhau tuỳ theo trình độ của nền văn minh”. Như vậy, hạch toán là nhu cầu tất yếu khách quan của mọi hình thái kinh tế xã hội và là công cụ quan trọng để quản lý kinh tế.
Có thể nói, hạch toán được hình thành và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của sản xuất xã hội. Trong các hình thái xã hội khác nhau, đối tượng và nội dung hạch toán cũng khác nhau, vì mỗi chế độ xã hội có một phương thức sản xuất riêng. Phương thức sản xuất thay đổi làm cho toàn bộ cơ cấu kinh tế, chính trị, xã hội cũng thay đổi. Cùng với sự thay đổi và phát triển của sản xuất xã hội, hạch toán cũng không ngừng được hoàn thiện về phương pháp, nội dung cũng như hình thức tổ chức.
Các loại hạch toán: 3 Xã hội ngày càng phát triển, quá trình tái sản xuất ngày càng phức tạp. Để quản lý một cách có hiệu quả và đánh giá toàn diện hoạt động kinh tế trong quá trình tái sản xuất xã hội, cần phải có đầy đủ, kịp thời và chính xác các thông tin về các mặt hoạt động khác nhau của quá trình tái sản xuất đó. Do vậy, hệ thống hạch toán đã không ngừng hoàn thiện và phát triển về nội dung, phương pháp cũng như hình thức tổ chức và được phân thành 3 loại sau: * Hạch toán nghiệp vụ (Hạch toán nghiệp vụ kỹ thuật): là sự quan sát, phản ánh và kiểm tra từng nghiệp vụ kinh tế, từng quá trình kinh tế kỹ thuật cụ thể, nhằm thu thập và cung cấp thông tin để thực hiện sự chỉ đạo thường xuyên, kịp thời các nghiệp vụ và các quá trình kinh tế đó. Hạch toán nghiệp vụ thu thập và cung cấp thông tin, số liệu về tình hình thực hiện từng nghiệp vụ kinh tế (mua, bán.) từng quá trình kinh tế kỹ thuật (quá trình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh).
Ví dụ doanh số bán của từng quầy hàng theo từng ngày, số lượng sản phẩm sản xuất được tại từng phân xưởng trong từng ca sản xuất. Đặc điểm: - Phương pháp thu thập và phản ánh thông tin là quan sát và phản ánh trực tiếp từng nghiệp vụ, từng quá trình kinh tế kỹ thuật cụ thể để phục vụ kịp thời việc điều hành, chỉ đạo từng nghiệp vụ, từng quá trình kinh tế cụ thể đó. Phương tiện thu thập và truyền thông tin đơn giản, linh hoạt: điện thoại, email, thư báo, truyền miệng. - Thông tin do hạch toán nghiệp vụ cung cấp chỉ là những thông tin riêng biệt về từng nghiệp vụ, từng quá trình.
- Hạch toán nghiệp vụ không chuyên dùng một loại thứơc đo nào. Tuỳ thuộc vào tính chất của từng nghiệp vụ kinh tế và yêu cầu quản lý mà sử dụng các thước đo phù hợp. Với những đặc điểm trên, hạch toán nghiệp vụ chưa trở thành một môn khoa học, chưa có đối tượng và phương pháp nghiên cứu riêng. Tuy nhiên hạch toán nghiệp vụ vẫn rất cần thiết để bổ sung cho các loại hạch toán khác.
* Hạch toán thống kê (Thống kê) là một môn khoa học nghiên cứu mặt lượng trong mối liên hệ mật thiết với mặt chất của các hiện tượng kinh tế xã hội số lớn trong điều kiện thời gian, không gian cụ thể nhằm rút ra bản chất và tính quy luật trong sự phát triển của hiện tượng đó. Đặc điểm: - Đối tượng của hạch toán thống kế là các hiện tượng kinh tế xã hội số lớn. - Để thu thập và phản ánh thông tin, hạch toán thống kê có hệ thống phương pháp nghiên cứu riêng (phương pháp điều tra chọn mẫu, phương pháp phân tổ, phương pháp chỉ số.) - Thông tin và số liệu do hạch toán thống kê cung cấp không mang tính liên tục, thường xuyên nhưng mang tính hệ thống và tính tổng hợp cao. 4 - Hạch toán thống kê không chuyên dùng một loại thước đo nào.
Tuỳ theo tính chất và yêu cầu cung cấp thông tin mà hạch toán thống kê sử dụng thước đo thích hợp. * Hạch toán kế toán (Kế toán): Có nhiều quan niệm khác nhau về kế toán. Các quan niệm khác nhau về kế toán là do nhìn nhận kế toán ở những thời điểm khác nhau (quan niệm cổ điển, quan niệm hiện đại) hoặc dưới những góc độ khác nhau (hoạt động kế toán, chức năng, nhiệm vụ, vai trò, tính nghề nghiệp, tính khoa học và nghệ thuật của kế toán.) Dưới góc độ nguyên lý chung về kế toán, chúng ta xem xét kế toán dưới hai góc độ sau: Xét dưới góc độ khoa học: Kế toán là môn khoa học thu nhận xử lý và cung cấp toàn bộ thông tin về tình hình tài sản và sự vận động của tài sản trong các đơn vị sản xuất kinh doanh, tổ chức sự nghiệp và các cơ quan nhằm kiểm tra, giám sát toàn bộ tài sản và các hoạt động kinh tế tài chính của các đơn vị đó.