Chương I: QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU THỐNG KÊ Mục tiêu: Học xong chương này, người học có khả năng: - Trình bày được những nội dung cơ bản về phương pháp điều tra, tổng hợp thống kê; nêu được những vấn đề chủ yếu của phân tích thống kê. - Thu thập được những thông tin cần thiết, tiến hành tổng hợp thống kê về đối tượng nghiên cứu. Điều tra thống kê 1. Khái niệm, ý nghĩa, nhiệm vụ của điều tra thống kê 1.
Khái niệm Điều tra thống kê là việc tổ chức một cách khoa học và theo một kế hoạch thống nhất việc thu thập, ghi chép tài liệu ban đầu về các hiện tượng và quá trình kinh tế - xã hội để phục vụ cho những mục đích nhất định. Ví dụ: khi nghiên cứu tình hình dân số cả nước, thống kê phải tổ chức thu thập tài liệu ban đầu trên từng người dân về: tên, tuổi, giới tính, trình độ văn hóa, chuyên môn,… 1. Ý nghĩa của điều tra thống kê - Là nguồn số liệu tin cậy phục vụ cho các đối tượng nghiên cứu nhằm đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. - Là căn cứ để Đảng và Nhà nước nắm bắt được các nguồn tài nguyên phong phú của đất nước và mọi khả năng tiềm tàng có thể khai thác được.
Trên cơ sở đó đề ra đường lối, chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân và quản lý xã hội một cách xác thực. Nhiệm vụ của điều tra thống kê - Xác định đúng mục đích điều tra thống kê (theo mục đích nghiên cứu). - Xác định đúng đối tượng điều tra thống kê. - Quy định các chỉ tiêu cần lấy tài liệu khi điều tra.
- Phương pháp điều tra. - Thời điểm điều tra (thời điểm làm mốc để ghi chép tài liệu, thường phải phù hợp với từng hiện tượng). - Thời kỳ điều tra (độ dài thời gian của đối tượng cần thu thập tài liệu). - Thời điểm kết thúc điều tra.
Các loại điều tra thống kê 1. Điều tra thường xuyên và không thường xuyên - Điều tra thường xuyên: là việc thu thập tài liệu ban đầu một cách thường xuyên, liên tục gắn liền với quá trình phát sinh, phát triển của hiện tượng. Ví dụ: ghi chép hằng ngày số lao động có mặt, số nguyên vật liệu tiêu dùng cho sản xuất sản phẩm, số sản phẩm sản xuất,… tại một doanh nghiệp sản xuất. Điều tra thường xuyên tốn kém nhiều chi phí và mất nhiều thời gian.
Do vậy, thường được áp dụng đối với những hiện tượng kinh tế - xã hội yêu cầu phải có số liệu thường xuyên đáp ứng yêu cầu nghiên cứu. - Điều tra không thường xuyên: là việc thu thập tài liệu ban đầu về hiện tượng không thường xuyên, không liên tục, không gắn liền với quá trình phát sinh, phát triển của hiện tượng. Điều tra không thường xuyên có thể chia thành điều tra không thường xuyên định kỳ và không định kỳ. Ví dụ: Tổng điều tra dân số, kiểm kê hàng hóa tồn kho định kỳ là loại điều tra không thường xuyên định kỳ.
Điều tra nghiên cứu thị trường, thăm dò ý kiến khách hàng, điều tra thiên tai là loại điều tra không thường xuyên không định kỳ. Điều tra không thường xuyên cho kết quả nhanh, ít tốn kém. Điều tra không thường xuyên thường được sử dụng thu thập tài liệu cần thiết đối với hiện tượng kinh tế - xã hội ít biến động, phát triển chậm hoặc không cần thiết phải theo dõi thường xuyên, liên tục quá trình phát triển biến động của chúng. Điều tra toàn bộ và không toàn bộ 1.
Điều tra toàn bộ: là việc thu thập tài liệu ban đầu trên tất cả các đơn vị hoặc các bộ phận của tổng thể. Ví dụ: tổng điều tra dân số, tổng điều tra tồn kho vật tư hàng hóa,… Điều tra toàn bộ cung cấp tài liệu đầy đủ nhất cho nghiên cứu thống kê, giúp cho việc tính toán các chỉ tiêu phản ánh quy mô, khối lượng của hiện tượng được chính xác, làm cơ sở đề ra các quyết định trong quản lý. Điều tra không toàn bộ: là việc thu thập tài liệu ban đầu trên một số đơn vị hoặc một bộ phận của tổng thể. Ví dụ: Điều tra về tình hình chiều cao của sinh viên trong trường đại học (chỉ điều tra một số sinh viên).
Điều tra không toàn bộ bao gồm các loại sau: - Điều tra chọn mẫu: là thu thập tài liệu ban đầu trên một số đơn vị được chọn ra từ tổng thể chung. Sau đó căn cứ vào kết quả thu thập được từ tổng thể mẫu để tính toán suy rộng thành đặc điểm chung của toàn bộ tổng thể. Ví dụ: điều tra năng suất lúa, điều tra mức sống dân cư,… 10 - Điều tra trọng điểm: là thu thập tài liệu ban đầu ở một bộ phận chủ yếu nhất của tổng thể. Bộ phận chủ yếu nhất thường là bộ phận chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ tổng thể nghiên cứu.
Kết quả điều tra giúp ta nhận thức được tình hình cơ bản của hiện tượng nghiên cứu nhưng không dùng để tính toán suy rộng thành các đặc điểm chung của tổng thể. Ví dụ: điều tra các vùng chuyên canh trong nông nghiệp như: cây chè ở Thái Nguyên, Hà Giang, Lâm đồng, cà phê ở Đắk Lắk ,… - Điều tra chuyên đề: là thu thập tài liệu ban đầu trên một số rất ít, thậm chí chỉ một đơn vị của tổng thể nghiên cứu nhưng lại đi sâu nghiên cứu chi tiết nhiều khía cạnh khác nhau của đơn vị đó. Kết quả điều tra không dùng suy rộng hoặc làm căn cứ để đánh giá tình hình cơ bản của toàn bộ hiện tượng nghiên cứu. Ví dụ: điều tra các điển hình tiên tiến hoặc lạc hậu.
Các phương pháp điều tra thống kê 1. Phương pháp trực tiếp: Là phương pháp thu thập tài liệu ban đầu trong đó nhân viên điều tra phải tiếp xúc trực tiếp với đơn vị được điều tra, trực tiếp tiến hành hoặc giám sát việc cân, đo, đong, đếm và tự ghi chép tài liệu vào phiếu điều tra. Ví dụ: điều tra tồn kho, điều tra năng suất lúa, điều tra năng suất lao động… Phương pháp trực tiếp thực hiện theo hình thức chủ yếu sau: đăng ký trực tiếp, phỏng vấn trực tiếp, phỏng vấn trực diện, phỏng vấn qua điện thoại. - Ưu điểm: tài liệu ban đầu thu thập được có độ chính xác cao.
- Nhược điểm: + Đòi hỏi nhiều nhân tài. + Phạm vi ứng dụng bị hạn chế vì có nhiều hiện tượng không cho phép quan sát trực tiếp. Phương pháp gián tiếp: Là phương pháp thu thập tài liệu qua bản viết của đơn vị điều tra, qua điện thoại hoặc qua chứng từ, sổ sách văn bản có sẵn. Ví dụ: Điều tra số sinh và tử vong của địa phương trong năm, điều tra ngân sách gia đình,… Phương pháp gián tiếp thực hiện theo hình thức chủ yếu sau: tự đăng ký, kê khai ghi báo theo yêu cầu ghi trong phiếu điều tra hoặc biểu mẫu thống kê gửi theo bưu điện về đơn vị điều tra.
- Ưu điểm: việc thu thập tài liệu ít tốn kém. - Nhược điểm: chất lượng của tài liệu thường không cao. Các hình thức tổ chức điều tra thống kê 1. Báo cáo thống kê định kỳ 1.
Khái niệm: Báo cáo thống kê định kỳ là hình thức tổ chức điều tra thống kê một cách thường xuyên, có định kỳ, theo nội dung, phương pháp và chế độ báo cáo do Nhà nước quy định thống nhất. Ví dụ: định kỳ tháng, quý, năm các doanh nghiệp nhà nước, các cơ quan thuộc quyền quản lý nhà nước phải lập và gửi các báo cáo thống kê lên cơ quan cấp trên, cơ quan hữu quan. Phạm vi áp dụng: chủ yếu cho các doanh nghiệp Nhà nước và cơ quan Nhà nước. Những nội dung chủ yếu của báo cáo thống kê định kỳ: - Ghi chép ban đầu: là việc ghi chép lần đầu tiên tình hình của đơn vị tổng thể cần điều tra.
Tài liệu ghi chép ban đầu là cơ sở để tổng hợp, tính toán các chỉ tiêu trong biếu mẫu Báo cáo thống kê định kỳ để quản lý thường xuyên hoạt động của đơn vị. Ví dụ: trong một doanh nghiệp sản xuất phải ghi chép hằng ngày số lao động có mặt, số nguyên vật liệu sử dụng, số sản phẩm sản xuất,… - Hệ thống các chỉ tiêu trong báo cáo thống kê định kỳ: là một tập hợp những chỉ tiêu có thể phản ánh các mặt, các tính chất quan trọng nhất, các mối liên hệ cơ bản giữa các mặt của tổng thể và mối liên hệ của tổng thể với các hiện tượng liên quan. Ví dụ: + Đối với đơn vị sản xuất: hệ thống chỉ tiêu cơ bản của nó là lao động và tiền lương, về chi phí, thu nhập và lợi nhuận,… + Đối với các ngành trong nền kinh tế quốc dân: hệ thống chỉ tiêu cơ bản của nó là dân số và nguồn lao động, giá trị sản xuất, tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tiêu dùng và mức sống dân cư,… Tác dụng của Báo cáo thống kê định kỳ: + Hệ thống chỉ tiêu có tác dụng lượng hóa các mặt quan trọng nhất, cơ cấu khách quan, mối liên hệ cơ bản của đối tượng nghiên cứu. + Là tiền đề để nhận thức bản chất, tính quy luật và xu hướng phát triển của hiện tượng.
Điều tra chuyên môn 1. Khái niệm: Điều tra chuyên môn là hình thức tổ chức điều tra không thường xuyên được tiến hành theo một kế hoạch và phương pháp quy định riêng cho mỗi lần điều tra. Ví dụ: tổng điều tra dân số, điều tra thăm dò ý kiến khách hàng,… 12 1. Đối tượng của điều tra chuyên môn: là những hiện tượng mà Báo cáo thống kê định kỳ chưa hoặc không thể phản ánh thường xuyên được.
Ví dụ: điều tra về thiên tai, điều tra về tai nạn lao động, …. Tổng hợp thống kê 2. Khái niệm, ý nghĩa, nhiệm vụ của tổng hợp thống kê 2. Khái niệm: Tổng hợp thống kê là tiến hành tập trung, chỉnh lý và hệ thống hóa một cách khoa học các tài liệu thu thập được trong điều tra.
Ý nghĩa của tổng hợp thống kê: Tổng hợp thống kê đúng đắn và khoa học là cơ sở vững chắc cho công tác phân tích và dự đoán thống kê. Nhiệm vụ của tổng hợp thống kê: Chuyển những đặc trưng riêng biệt của từng đơn vị tổng thể thành những đặc trưng chung của toàn bộ tổng thể.