CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MÔI TRƯỜNG Mã chương: MT01 Giới thiệu: Nội dung chương giới thiệu đến người học khái niệm về môi trường, môi trường du lịch, mối quan hệ giữa môi trường và phát triển du lịch bền vững. Giúp người học nhận thức được những hậu quả khi môi trường bị ô nhiễm, từ đó nâng cao nhận thức và đưa ra các giải pháp để bảo vệ môi trường. Mục tiêu: - Trình bày được khái niệm môi trường, môi trường du lịch; - Trình bày được mối quan hệ giữa môi trường với phát triển du lịch bền vững; - Vận dụng được các nguyên tắc bảo vệ môi trường; - Đề xuất được các giải pháp bảo vệ môi trường; - Thực hiện đúng các qui định của cơ quan có thẩm quyền đối với việc bảo vệ môi trường. Nội dung chính: 1.
Môi trường và tài nguyên môi trường 1. Khái niệm môi trường: Môi trường là tập hợp tất cả các thành phần của thế giới vật chất bao quanh có khả năng tác động đến sự tồn tại và phát triển của mỗi sinh vật. Bất cứ một vật thể, một sự kiện nào cũng tồn tại và diễn biến trong một môi trường nhất định. Môi trường sống của con người (hay còn gọi là môi sinh): là sự tổng hợp các điều kiện vật lý, hoá học, sinh học, kinh tế xã hội bao quanh và có ảnh hưởng tới sự sống, phát triển của từng cá nhân và cả cộng đồng con người.
Môi trường sống của con người là cả vũ trụ bao la, trong đó hệ Mặt trời và Trái đất là bộ phận ảnh có ảnh hưởng trực tiếp và rõ rệt nhất. Trong môi trường sống này luôn luôn tồn tại sự tương tác lẫn nhau giữa các thành phần vô sinh và hữu sinh. Sự hình thành của môi trường tự nhiên gồm 2 yếu tố cơ bản: môi trường vật lý và môi trường sinh học - Môi trường vật lý: là thành phần vô sinh của môi trường tự nhiên bao gồm khí quyển, thuỷ quyển, thạch quyển, sinh quyển. Khí quyển: hay còn được hiểu là môi trường không khí, là lớp khí bao quanh trái đất, chủ yếu ở tầng đối lưu cách mặt đất từ 10-12km.
Tầng này nhiệt 7 độ giảm theo chiều cao, áp suất giảm dần và nồng độ không khí loãng dần theo chiều cao. Khí quyển đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc duy trì sự sống của con người, sinh vật và quyết định đến tính chất khí hậu thời tiết của trái đất. Thuỷ quyển: hay còn gọi là môi trường nước bao gồm nước đại dương, nước biển, nước sông, nước ao hồ, hơi nước trong đất và trong không khí.thuỷ quyển còn đóng vai trò không thể thiếu được trong việc duy trì sự sống của con người, sinh vật, cân bằng khí hậu toàn cầu và phát triển các ngành kinh tế. Thạch quyển: hay còn gọi là môi trường đất bao gồm lớp vỏ trái đất có độ dày từ 60-70km trên phần lục địa và 20-30km dưới đáy đại dương.
Tính chất vật lý và thành phần hoá học của địa quyển ảnh hưởng quan trọng đến cuộc sống con người sự phát triển nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, du lịch, cảnh quan và tính đa dạng sinh học trên trái đất. Sinh quyển: sinh quyển là các phần của môi trường vật lý, có tồn tại sự sống, sinh quyển bao gồm phần lớn thuỷ quyển, lớp dưới của khí quyển và lớp trên của địa quyển. Sinh quyển gắn liền với các thành phần của môi trường và chịu sự tác động trực tiếp của sự biến hoá tính chất vật lý và hoá học của các thành phần nảy. Đặc trưng cho hoạt động sinh quyển là các chu trình trao đổi chất và năng lượng.
- Môi trường sinh học: Môi trường sinh học là thành phần hữu sinh của môi trường. Môi trường sinh học bao gồm các hệ sinh thái, quần thể động vật và thực vật. Môi trường sinh học tồn tại và phát triển trên cơ sở sự tiến hoá của môi trường vật lý. Các thành phần của môi trường, không tồn tại ở trạng thái tĩnh mà luôn luôn có sự chuyển hoá trong tự nhiên theo chu trình sinh – địa – hoá và luôn luôn ở trạng thái cân bằng động.
Chu trình cacbon, chu trình nitơ, chu trình photpho, chu trình lưu huỳnh. là các chu trình chuyển hoá các nguyên tốt hoá học từ dạng vô sinh (đất, nước, không khí) vào dạng hữu sinh (sinh vật) và ngược lại. Một khi các chu trình này không còn giữ ở trạng thái cân bằng thì tạo ra diễn biến bất thường về môi trường, gây tác động xấu cho sự sống của con người và sinh vật ở một khu vực hay quy mô toàn cầu. Chức năng của môi trường Đối với cá thể con người, cũng như đối với cộng đồng nhiều con người và cả xã hội loài người, môi trường sống có thể xem là có bốn chức năng.
- Môi trường là không gian sống với một phạm vi nhất định. Trái đất, bộ phận của môi trường gần gũi nhất của loài người, trong hàng triệu năm qua 8 không hề thay đổi về độ lớn. Trong khi đó dân số loài người trên trái đất đã và đang tăng lên theo cấp số nhân. Diện tích bình quân đầu người theo đó đã giảm sút rất nhanh, từ 75ha bình quân cho mỗi người ở năm 0 theo công lịch (vào năm Thiên chúa giáng sinh) thì nay chỉ có thể sử dụng 3ha, dự đoán tới năm 2010 diện tích bình quân cho mỗi người chỉ còn lại từ 1,5 – 1,8ha.
Con người đòi hỏi không gian sống không chỉ về phạm bị rộng lớn mà còn cả chất lượng. Không gian sống có chất lượng cao trước hết phải sạch sẽ, tinh khiết, cụ thể là không khí, nước, đất tiếp xúc với con người và được con người sử dụng không chứa hoặc chứa ít các chất bẩn độc hại với sức khỏe con người. - Môi trường là nơi cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người. Đây chính là chức năng vô cùng quan trọng của môi trường.
Nhờ có chức năng này, cuộc sống con người mới được đảm bảo và phát triển. Con người đã khai thác các nguồn nguyên vật liệu và năng lượng cần thiết cho cuộc sống, hoạt động sản xuất của mình. Trải qua các nền sản xuất từ săn bắt, hái lượm, qua nông nghiệp đến công nghiệp con người đều phải sử dụng đất, nước, không khí, khoáng sản trong lòng đất và các dạng năng lượng lấy từ gỗ, than, dầu mỏ, khí đốt, gió, thủy điện, năng lượng mặt trời, năng lượng nguyên tử. để phục vụ cuộc sống của mình.
Như vậy vấn đề tài nguyên lại được đặt ra, con người phải bảo vệ và sử dụng một cách hợp lý để bảo vệ sự phát triển bền vững. - Môi trường còn là nơi chứa đựng các chất thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình. Trong quá trình sử dụng nguyên liệu và năng lượng vào cuộc sống sản xuất của mình, con người luôn tại ra các phế thải (phế thải sinh hoạt và phế thải sản xuất), môi trường chính là nơi chứa đựng các phế thải đó. Dân số tăng, phế thải sinh hoạt ngày càng nhiều, sản xuất dịch vụ phát triển kéo theo lượng phế thải gia tăng gây ô nhiễm môi trường.
Do vậy chứa đựng và xử lý phế thải trở thành vấn đề bức xúc của mọi người và mọi quốc gia. - Môi trường là nơi lưu trữ, cung cấp nguồn thông tin cho con người. Mọi hoạt động kể từ khi con người xuất hiện, trải qua các thời kỳ tiến hóa từ ngàn đời xưa, các nền văn minh đế chế đều được ghi lại rõ ràng bằng những vật chứng cụ thể. Có được điều này chính là nhờ cuốn sách khổng lồ của môi trường.
Nhờ có môi trường, chúng ta mới có thể lưu trữ những nguồn gen, các loài động thực vật, các vẻ đẹp, cảnh quan có giá trị thẩm mỹ, các hệ sinh thái tự 9 nhiên và nhân tạo. Vì vậy chức năng này của môi trường luôn được đánh giá cao. Sự ô nhiễm môi trường và suy thoái môi trường - Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi trực tiếp hoặc gián tiếp các thành phần và đặc tính vật lý, hoá học, sinh học, sinh thái học của bất kỳ thành phần nào của môi trường hay toàn bộ môi trường vượt quá mức cho phép đã được xác định. Sự gia tăng các chất lạ vào môi trường làm thay đổi các yếu tố môi trường sẽ gây tổn hại hoặc có tiềm năng gây tổn hại đến sức khoẻ, sự an toàn hay sự phát triển của con người và sinh vật trong môi trường đó.
- Tác nhân gây ô nhiễm môi trường là những chất, những hỗn hợp hoặc những nguyên tố hoá học có tác dụng biến môi trường từ trong sạch trở nên độc hại. Những tác nhân này thường được gọi khái quát là chất ô nhiễm. Chất ô nhiễm có thể là chất rắn (rác, phế thải rắn.), chất lỏng (các dung dịch hoá chất, chất thải của dệt nhuộm, chế biến thực phẩm.), chất khí (SO2, từ núi lửa, CO2, NO2 trong khói xe hơi, CO trong khói bếp lò gạch.) các kim loại nặng như chì, đồng. Các chất này đồng thời tác động vào cây trồng, vào cá tôm làm cho các sinh vật có thể chết.
Không khí đô thị thường bị ô nhiễm do bụi đất, bụi xi măng, khí SO2, NO2 trong khói xe, mùi hôi thối từ cống rãnh bốc lên, cộng với tiếng ồn quá mức cho phép gây tổn hại đến sức khoẻ con người thậm trí gây chết người. - Các chất độc và ngộ độc: Một chất ô nhiễm có mặt trong môi trường tới một hàm lượng nhất định nào đó, nó trở thành chất gây độc cho sinh vật. Từ tác nhân gây ô nhiễm trở thành tác nhân gây độc và làm ngộ độc cho sinh vật. Có nhiều cách phân loại chất độc, nhưng phổ thông nhất người ta chia chất độc trong môi trường làm 3 dạng.
Chất độc tự nhiên (chất độc bản chất), chất độc không bản chất, chất độc khi nồng độ cao. Hai dạng sau được xếp chung vào loại chất độc theo liều lượng. Chất độc bản chất là những chất cho dù một lượng rất nhỏ cũng gây độc cho cơ thể sinh vật như H2S, CH4, Na2, CO3, Pb, Hg, Cd, Be, St. Ví dụ: Nếu thuỷ ngân (Hg) vượt quá 0,5 mirigram/m3 không khí đã gây độc.
Chất độc theo liều lượng là loại chất trong điều kiện bình thường ở nồng độ thấp thì không độc, thậm chí còn là dinh dưỡng cần thiết cho động, thực vật và con người, nhưng khi có nồng độ cao trong dung dịch trong môi trường vượt quá giới hạn an toàn thì trở nên độc.