CHƯƠNG 1 SINH HỌC VÀ KỸ THUẬT NUÔI TẢO MH29-01 Giới thiệu: Vi tảo là những loài tảo có kích thước từ 20 – 200 µm sống trôi nổi trong tầng nước và là mắc xích đầu tiên trong chuỗi thức ăn của thủy vực, là thức ăn quan trọng cho động vật phù du, động vật không xương sống, các loài cá giai đoạn cá bột và một số loài cá trưởng thành. Hiện nay, việc sử dụng tảo ngày càng phổ biến và có tính quyết định đến sự thành công của việc sản xuất giống động vật thủy sản vì vậy việc nghiên cứu và phát triển hệ thống ương nuôi tảo nhằm nâng cao sản lượng và chất lượng nguồn thức ăn tự nhiên này. Mục tiêu: + Kiến thức: Trình bày được vai trò của tảo trong nuôi trồng thủy sản, biết đặc điểm sinh học của một số loài tảo và một số quy trình nuôi tảo. + Kỹ năng: Lập được kế hoạch sản xuất; Thực hiện thành thạo các thao tác chuẩn bị dụng cụ, thiết bị và vận hành quy trình nuôi; Theo dõi và kiểm soát tốt sự biến động của các yếu tố thuỷ lý, thuỷ hoá trong quá trình nuôi; Kiểm soát và cho ăn đúng cách, đúng loại và khẩu phần tương ứng với từng giai đoạn nuôi.
Thực hiện thành thạo các thao tác thu hoạch và vận chuyển. + Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Tuân thủ trình tự, đam mê công việc, có đạo đức nghề nghiệp, tác phong công nghiệp và ý thức tổ chức kỷ luật tốt trong quá trình làm việc. Vai trò và đặc điểm chung của tảo. Vai trò của tảo trong các vực nước tự nhiên và các ao nuôi trồng thủy sản là rất lớn và được thể hiện ở hai mặt: có lợi và có hại.
Mặt có lợi Vấn đề được đề cập và quan tâm nhiều nhất là vai trò của tảo đối với nghề nuôi trồng thủy sản. Tảo là nguồn thức ăn quan trọng của cá, không có tảo thì không có nghề cá (Hollerback, 1951). Tảo là mắt xích đầu tiên trong chuỗi thức ăn tự nhiên của vực nước. Tảo chứa nhiều chất dinh dưỡng khác nhau, đặc biệt là protein (50 - 70% trọng lượng khô).
Do vậy là thức ăn rất cần thiết cho sự phát triển của nhiều loài động vật nhỏ ở nước (những động vật này lại là thức ăn tốt cho tôm cá). Nhiều loài tảo Lục, tảo Silíc do có lượng chất dinh dưỡng cao, nên được nghiên cứu và nuôi trồng (đại trà) làm thức ăn cho các động vật ở 9 nước cũng như các đối tượng nuôi trồng thủy sản. Theo Boyr (1990), năng suất sơ cấp của thực vật nổi là nguồn thức ăn và nguồn cung cấp oxy hòa tan rất quan trọng cho các động vật ở nước. Sự quang hợp của thực vật nổi đóng vai trò hết sức quan trọng để duy trì oxy trong nước.
Các biến đổi oxy hòa tan trong quá trình hô hấp, trong quang hợp thường được sử dụng để đánh giá năng suất sơ cấp ao nuôi trồng thủy sản. Trong các hệ thống NTTS, đặc biệt là trong các ao nuôi tôm công nghiệp, tảo là các yếu tố lọc sinh học làm sạch môi trường bởi sự hấp thụ mạnh các chất dinh dưỡng, đặc biệt là muối amonia - sản phẩm của quá trình phân giải các hợp chất hữu cơ, thức ăn thừa, chất thải của tôm, hạn chế mức độ gây độc của chúng. Tảo cung cấp lượng oxy lớn, thúc đẩy phân huỷ các chất tích tụ trong ao. Starron và cs.
(1995) khi nghiên cứu khả năng loại trừ tích lũy hữu cơ trong hệ thống tuần hoàn của trại nuôi cá bằng vi tảo Chlorella và Spirulina cho thấy nitơrat và phốt phát có thể được loại trừ hoàn toàn bởi các loại tảo hiển vi này. Tảo còn có vai trò làm giảm cường độ ánh sáng chiếu vào trong ao và có thể ngăn cản sự phát triển của các loài tảo đáy, đảm bảo sự ổn định cho tôm và ngăn cản các loài địch hại của tôm như cá, chim. Tảo hạn chế tối thiểu các biến động của chất lượng nước, ổn định nhiệt độ và hạn chế sự mất nhiệt của nước vào mùa đông. Sự phát triển của tảo có liên quan chặt chẽ với sự biến đổi của pH trong ao nuôi.
Biến đổi pH trong các vũng nước ven bờ, các ao đầm nhỏ và trong các ao nuôi tôm liên quan đến quá trình quang hợp và hô hấp của thực vật ở nước. Như vậy pH môi trường phụ thuộc vào sự biến đổi hàm lượng O 2 và CO2. Nghiên cứu sự biến đổi này và độ pH trong ao nuôi giúp ta đánh giá được hiệu quả tác động kỹ thuật của con người lên quá trình sản xuất tôm thịt, có thể duy trì pH ở mức dao động ngày đêm không vượt quá 0,5 đơn vị qua việc duy trì hệ thực vật nổi trong ao nuôi. Nhìn chung, vi tảo đóng vai trò quan trọng trong sự ổn định hệ sinh thái ao nuôi và hạn chế tối thiểu các biến động chất lượng nước.
Một quần xã thực vật nổi ổn định đảm bảo lượng oxy hòa tan thông qua quá trình quang hợp và làm giảm lượng CO2, NH3, H2S, giảm thiểu tác động độc hại của NH3 và H2S lên các đối tượng nuôi. Một tập đoàn thực vật nổi tốt có thể làm giảm các chất độc trong nước nhờ khả năng hấp thụ NH3 và giữ các kim loại nặng. Chúng cạnh tranh với các loài thực vật và các vi sinh vật khác không có lợi trong ao, nhất là các loài có khả năng gây bệnh cho tôm, làm tăng lượng thức ăn tự nhiên và làm giảm chi phí nguồn thức ăn bổ sung. Bởi vậy, có thể quản lý chất lượng nước trong các ao nuôi thông qua theo dõi và điều chỉnh sự phát triển của tảo.
Mặt có hại 10 Bên cạnh những mặt có lợi, tảo cũng có những mặt trái của nó, kể cả khi chúng phát triển quá nhiều hay quá ít. Hệ thống nuôi thâm canh thường có hiện tượng thừa dinh dưỡng do thức ăn và chất hữu cơ khác. Sự phát triển quá mức của thực vật nổi từ lượng muối dinh dưỡng như vậy kéo theo hàm lượng oxy hòa tan cao vào buổi chiều. Khi hiện tượng này xảy ra, hàm lượng amoniac chưa ion hoá (NH3) tăng cao do pH cao có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ của tôm.
Mật độ tảo quá thấp, pH và oxy có thể ổn định hơn nhưng lại không phù hợp cho tôm. Sự tàn lụi hàng loạt của thực vật nổi làm giảm chất lượng nước và sức sinh trưởng của tôm. Khi tàn lụi chúng sẽ gây ra một số hậu quả nghiêm trọng, các chất dinh dưỡng không được hấp thụ gây sự phú dưỡng cho ao. Sau khi chết, xác của chúng sẽ lắng đọng ở đáy ao, phủ lên đáy một lớp hữu cơ đang phân hủy (tăng lượng oxy tiêu thụ cho quá trình phân giải) và làm giảm chất lượng nước, gây hại cho tôm nuôi.
Tạ Khắc Thường (1996) cho biết, trong ao nuôi tôm, khi tảo tàn hàng loạt, ao có độ trong giảm đột ngột và hàm lượng amoniac vượt quá ngưỡng thích hợp cho tôm, tôm bị bệnh sau đó vài ngày. Tảo chết lắng xuống đáy làm ô nhiễm đáy ao, và những con tôm yếu dễ bị mắc một số bệnh về mang (mang đen, mang hồng, mang vàng…). Sự phát triển của tảo Silíc thường tạo màu vàng xanh, vàng nâu và được cho là màu nước tốt cho các ao nuôi tôm. Song màu nước này thường không ổn định và khi có mật độ cao trong nước chúng không còn là thức ăn tốt cho động vật nổi (Rotatoria, Copepoda .) mà sẽ cản trở sự vận động của tôm (đặc biệt là Biddulphia, Coscinodiscus.
những chi có kích thước quá lớn). Trong các ao nuôi tôm công nghiệp với hàm lượng muối dinh dưỡng khá cao lại có độ mặn lớn (25 - 33‰), là điều kiện thuận lợi cho tảo Hai Roi bùng nổ về số lượng tế bào và làm thay đổi màu nước. Khi chúng nở hoa sẽ gây ra sự thiếu máu ở động vật (do thiếu oxy trong quá trình lắng đọng của tảo). Đặc điểm của một số loài tảo nuôi hiện nay 2.
Tảo Dunaliella Cơ thể có cấu trúc dạng monas đơn bào, hình bầu dục, nhỏ dần về phía đầu. Tế bào có kích thước lớn, chiều dài từ 9-11 µm. Tế bào có hai roi đều nhau ở phía trước nên trong quá trình sống, chúng luôn luôn vận động, chiều dài của roi bằng 1,5-2 lần chiều dài của tế bào. Vách tế bào bằng xenluloza, rất cứng chắc nên các tế bào có hình dạng nhất định.
Tế bào có một nhân nằm ở giữa, thể sắc tố có dạng chén với một hạt tạo bột lớn và có các hạt bắt màu nhỏ nằm rải 11 rác trong tế bào chất. Ở phần trước của thể sắc tố có một số không bào co bóp làm chức năng chính là bài tiết. Ngoài ra còn có điểm mắt màu đỏ với chức năng thụ cảm ánh sáng, thu nhận ánh sáng và định hướng cho sự chuyển động của tế bào trong môi trường sống. Sắc tố gồm: Chlorophyl a, b (màu lục), xanthophin (màu vàng), caroten (màu đỏ), đặc biệt là β-caroten.
Tuỳ vào hàm lượng β-caroten tích luỹ, các tế bào tảo có thể có màu lục, vàng hoặc đỏ sẫm. Sinh sản dinh dưỡng: theo phương thức phân đôi tế bào Sinh sản vô tính: sinh sản vô tính bằng bào tử động. Những bào tử này được hình thành do sự phân chia nội chất của tế bào mẹ, bào từ động thường có 2-4 roi, thể sắc tố dạng chén, có nhãn điểm và không bào co bóp ở phía trước bào tử. Bào tử chui ra ngoài qua khe nứt của tế bào mẹ, bơi trong một thời gian (1-2 giờ), sau đó bám vào giá thể, rụng roi để hình thành vách tế bào và phát triển thành cá thể mới.
Sinh sản hữu tính: Trong hoàn cảnh không thuận lợi, tảo tiến hành sinh sản hữu tính bằng cách sinh ra giao tử nằm trong giao tử nang. Giao tử phối hợp từng đôi thành hợp tử và phát triển thành cơ thể mới. Tảo Nitzschia closterium Nitzschia closterium có hình que tương đối nhỏ, ngắn, vỏ mỏng sống riêng lẻ từng tế bào. Mặt vỏ tế bào hình que, trục dài trung bình 30 µm, đoạn giữa mặt vỏ dài khoảng 1/3 đến 1/4 trục dài phình to rõ ràng có dạng tựa hình thoi, chiều ngang khoảng 5 µm.
Hai đầu mặt vỏ nhỏ đều và đầu cong về một bên. Đây được xem là đặc điểm phân loại đến loài. Điểm xương thuyền ở hai bên, mép mặt vỏ tương đối nhỏ, đường vân ngang mặt vỏ rất mảnh, khó quan sát. Mỗi tế bào có hai thể sắc tố dạng bản nằm ở đoạn tế bào phình to.
Thành phần sắc tố của Nitzschia closterium bao gồm sắc tố chính Chlorophyl a, Chlorophyl c, và sắc tố phụ Fucoxanthin, Dianoxanthin.