TRƯỜNG TRUNG CẤP Y TẾ TÂY NINH TÀI LIỆU LƯU HÀNH NỘI BỘ - 2016 TRÖÔØNG TRUNG CAÁP Y TEÁÁ TAÂY NINH BỘ MÔN Y HỌC CỘNG ĐỒNG BIÊN SOẠN VÀ TRÌNH BÀY BS. Nguyễn Văn Thịnh Trang 1 Mục lục. MỤC LỤC Trang 1. Chương trình Truyền thông – GDSK 3 3.
Khái niệm về truyền thông GDSK và nâng cao sức khoẻ 5 4. Hành vi sức khoẻ và quá trình thay đổi hành vi sức khoẻ 17 5. Các kỹ năng giao tiếp cơ bản và nâng cao 27 6. Giao tiếp với người bệnh 49 7.
Các phương pháp truyền thông GDSK 55 8. Các phương tiện truyền thông GDSK 63 9. Kỹ năng truyền thông GDSK 71 10. Nội dung truyền thông GDSK 87 11.
Truyền thông nguy cơ trong vụ dịch 95 12. Lập kế hoạch truyền thông GDSK 103 13. Tài liệu tham khảo 109 Giáo trình Kỹ năng giao tiếp – GDSK. Trang 2 LỜI NÓI ĐẦU Giáo trình Kỹ năng giao tiếp – GDSK của Trường TCYT Tây Ninh đã được biên soạn lần đầu vào năm 2002.
Qua nhiều lần chỉnh lý, đến năm 2009 chúng tôi tiến hành biên soạn lại một số chuyên đề cập nhật. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại vẫn còn một vài nội dung cần biên soạn lại. Đặc biệt, từ năm 2014, thực hiện Quy chế đào tạo mới theo Thông tư 22/2014/TT- BGDĐT do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 09/7/2014, chúng tôi tiếp tục rà soát và hoàn chỉnh tất cả tài liệu liên quan đến hoạt động đào tạo đang triển khai tại Trường. Đến năm 2015, do có nhiều thay đổi trong chương trình, Bộ giáo trình tiếp tục được biên soạn lại trên cơ sở lồng ghép 2 học phần Khoa học hành vi – GDSK và Kỹ năng giao tiếp với học phần chung là Kỹ năng giao tiếp – Giáo dục sức khỏe.
Bộ giáo trình được biên soạn lại kỳ này gồm 3 phần: - Phần đầu là những kiến thức chung về giao tiếp và truyền thông GDSK. - Phần 2 là những kiến thức, kỹ năng về giao tiếp và GDSK. - Phần 3 là những nội dung vận dụng giao tiếp trong sinh hoạt và làm việc. Nội dung của giáo trình dựa chủ yếu vào tài liệu Truyền thông GDSK của Vụ Khoa học và Đào tạo – Bộ Y Tế, có tham khảo một số tài liệu về tâm lý y học, nâng cao kỹ năng truyền thông, Quản lý điều dưỡng, tài liệu huấn luyện của Trung tâm truyền thông, Viện Y tế công cộng TP.
Hồ Chí Minh. Với tiêu chí "lấy người học làm trung tâm", chúng tôi cố gắng biên soạn khá chi tiết các nội dung cần thiết để người học có thể vận dụng được. Hy vọng đây không chỉ là giáo trình học tập mà còn là tài liệu cần thiết trong công tác sau khi ra trường. Mặc dù được biên soạn lại nhiều lần nhưng thực tế cũng khó tránh khỏi những sai sót, mong quý đồng nghiệp và Hội đồng đào tạo nhà trường góp ý để bộ giáo trình ngày càng hoàn chỉnh hơn.
Giáo viên biên soạn Giáo trình Kỹ năng giao tiếp – GDSK. Trang 3 Chương trình Kỹ năng giao tiếp - GDSK. CHƯƠNG TRÌNH KỸ NĂNG GIAO TIẾP – GIÁO DỤC SỨC KHỎE - Mã số học phần: B.1 - Số đơn vị học trình: 02 (2/0) - Số tiết: 30 tiết (20/10/0) ĐIỀU KIỆN: - Học sinh đã học xong các học phần Chăm sóc sức khỏe người bệnh. Về kiến thức: - Định nghĩa được khái niệm giao tiếp, truyền thông GDSK.
- Mô tả các quá trình giao tiếp, truyền thông GDSK. - Trình bày được các phương pháp giao tiếp, truyền thông GDSK. - Mô tả các biện pháp quản lý truyền thông nguy cơ trong vụ dịch. - Trình bày những nội dung cơ bản trong truyền thông GDSK.
Về kỹ năng: - Thực hiện được một số kỹ năng giao tiếp: kỹ năng làm quen, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng trình bày, kỹ năng giải quyết xung đột và kỹ năng khắc phục khó khăn trong giao tiếp. - Lập kế hoạch và thực hiện chương trình truyền thông GDSK cụ thể. - Vận dụng được các kỹ năng giao tiếp trong gia đình, nhà trường, xã hội; cách thức giải quyết các xung đột khi gặp phải và khắc phục những trở ngại trong giao tiếp. Về thái độ: - Người học có thái độ giao tiếp đúng mực, luôn chủ động và tích cực rèn luyện kỹ năng giao tiếp trong cuộc sống.
NỘI DUNG: Căn cứ vào mục tiêu của học phần, nội dung chương trình học phần được cấu trúc thành phần: - Phần 1 bao gồm những khái quát chung về truyền thông - GDSK và giao tiếp, những nguyên tắc cơ bản trong truyền thông - GDSK; - Phần 2 bao gồm một số phương pháp và kỹ năng TT-GDSK như kỹ năng làm quen, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng trình bày, kỹ năng giải quyết xung đột và kỹ năng khắc phục khó khăn trong giao tiếp; - Phần 3 đề cập tới việc vận dụng kỹ năng trong học tập, sinh hoạt, làm việc. Giáo trình Kỹ năng giao tiếp – GDSK. Chương trình Kỹ năng giao tiếp - GDSK. Trang 4 Số tiết Tt Nội dung bài học Tổng LT TL 1.
Khái niệm về truyền thông GDSK và nâng cao sức khoẻ 2 2 0 2. Hành vi sức khoẻ và quá trình thay đổi hành vi sức khoẻ 3 2 1 3. Các kỹ năng giao tiếp cơ bản và nâng cao 4 2 2 4. Giao tiếp với người bệnh 3 2 1 5.
Các phương pháp truyền thông GDSK 3 2 1 6. Các phương tiện truyền thông GDSK 2 2 0 7. Kỹ năng truyền thông GDSK 4 2 2 8. Nội dung truyền thông GDSK 2 2 0 9.
Truyền thông nguy cơ trong vụ dịch 3 2 1 10. Lập kế hoạch truyền thông GDSK 4 2 2 Cộng 30 20 10 HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN: ▪ Yêu cầu giáo viên: - Giáo viên là Bác sỹ, cử nhân điều dưỡng hoặc hộ sinh. ▪ Phương pháp giảng dạy: - Lý thuyết: Thuyết trình, áp dụng các phương pháp giảng dạy tích cực. - Thực hành: thực hành tại lớp dưới dạng thảo luận nhóm, giáo viên hướng dẫn chung cả lớp.
▪ Trang thiết bị dạy học: - Lý thuyết: có thể sử dụng máy Overhead, Projector. - Thực hành: sử dụng tranh, mô hình, tình huống thảo luận. ▪ Đánh giá: - Kiểm tra thường xuyên: 01 cột điểm - Kiểm tra định kỳ: 01 cột điểm. - Thi kết thúc học phần: Bài thi trắc nghiệm 50 câu trong 40 phút.
▪ Tài liệu tham khảo: - Nguyễn Văn Thịnh, 2015. Giáo trình Kỹ năng giao tiếp – Giáo dục sức khỏe, tài liệu lưu hành nội bộ, Trường Trung cấp Y tế Tây Ninh. Tâm lý Y học, Nhà xuất bản y học, Hà Nội. - Phí Nguyệt Lự – Trần Thị Nhung – Trương Thị Tân, 2000.
Truyền thông – Giáo dục sức khoẻ, Vụ khoa học và đào tạo – Bộ Y Tế, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội. - Thành Xuân Nghiêm – Trương Thị Tân, 1993. Giáo trình cơ bản về giáo dục sức khoẻ, Trung tâm tuyên truyền bảo vệ sức khoẻ – Bộ y Tế, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, Tái bản lần thứ hai. Giáo trình Kỹ năng giao tiếp – GDSK.
Trang 5 Khái niệm về TT - GDSK và nâng cao sức khỏe. KHÁI NIỆM VỀ TRUYỀN THÔNG – GDSK VÀ NÂNG CAO SỨC KHỎE BS. Nguyễn Văn Thịnh MỤC TIÊU HỌC TẬP 1. Trình bày được một số khái niệm về truyền thông - GDSK.
Mô tả các mô hình truyền thông - Giáo dục sức khoẻ. Nêu các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động truyền thông - GDSK. MỘT SỐ KHÁI NIỆM Khi nói đến nguyên nhân của bệnh tật, tử vong ta thường nghĩ ngay đến mầm bệnh, các yếu tố sinh học vi trùng, vi rút, các rối loạn sinh học hoặc các yếu tố vật lý như tai nạn, xe cộ, chết đuối, điện giật, phỏng. Thế nhưng khi đi sâu hơn ta thấy rằng quả thật có những nguyên nhân sâu xa mang tính xă hội như thiếu nguồn lực, thiếu hiểu biết, phong tục tập quán không phù hợp.
Có thể nói các nguyên nhân sinh học và vật lý là các nguyên nhân gần, nguyên nhân trực tiếp còn các nguyên nhân xã hội là những nguyên nhân xa, nguyên nhân gián tiếp. Ngoài ra nếu để ý kỹ ta có thể thấy giữa những nguyên nhân xa và nguyên nhân gần có một dạng nguyên nhân trung gian khá đặc biệt đó là hành vi, là các hoạt động có mục đích của con người trong đời sống. Một điều cũng cần nhắc đến đó là trong những thập niên gần đây, thế giới chứng kiến sự xuất hiện ngày càng nhiều của những bệnh không lây như tiểu đường, tim mạch, ung thư, rối loạn tâm thần v. dẫn đến nhiều hậu quả rất trầm trọng về mặt sức khỏe.
Những bệnh này còn gọi là bệnh do lối sống vì nguyên nhân/yếu tố ảnh hưởng của nó bắt nguồn phần lớn từ lối sống thiếu vận động, ăn uống không cân đối các chất (thừa đường, thừa béo), những thói quen không có lợi cho sức khỏe (hút thuốc, uống rượu v.) trong một bối cảnh sống ngày càng căng thẳng. Một vấn đề nữa cũng đáng lưu ý đó là sự bùng phát các các bệnh truyền nhiễm mới cũng như sự xuất hiện trở lại của các bệnh truyền nhiễm cũ. Lý do phần lớn cũng ở hành vi khi mà sự di động, giao lưu tăng cộng với lối sống trở nên dễ dăi hơn ở một bộ phận lớn của dân số. Vì thế, việc thực hiện những biện pháp giúp người dân thay đổi những hành vi có hại, hướng mọi người trong cộng đồng đến những hành vi có lợi là điều hết sức cấp bách hiện nay.
Giáo dục sức khỏe: Có nhiều định nghĩa về GDSK: - “Một hoạt động nhằm vào các cá nhân để đưa đến việc thay đổi hành vi” (WHO, 1977). Giáo trình Kỹ năng giao tiếp – GDSK. Khái niệm về TT - GDSK và nâng cao sức khỏe. Trang 6 - “Giúp quần chúng đạt được sức khỏe bằng chính nổ lực của họ” (Badgly 1975).
bao gồm những hoạt động nhằm thông tin, động viên và giúp đỡ quần chúng chấp nhận và duy trì những hành vi có lợi cho sức khỏe.” (Taskforce on HE, NY 1976) - “là một quá trình nhằm giúp nhân dân tự thay đổi những hành vi có hại cho sức khỏe để chấp nhận thực hiện những hành vi tăng cường sức khỏe” (Bộ Y tế, 1993) Dù muốn hay không thì những thông tin, tác động về sức khỏe vẫn diễn ra hàng ngày, hàng giờ ở khắp mọi nơi. Người làm công tác GDSK cần nhận thức vai trò của mình không phải là người duy nhất thực hiện việc GDSK mà chính là người khơi dậy, điều chỉnh dòng chảy GDSK sẵn có trong cuộc sống. Nói một cách hình ảnh đó là người GDSK làm công việc “gạn đục, khơi trong” dòng chảy chứ không phải chảy thay.