Chương 1 giúp người học hiểu được những thông tin liên quan đến các chỉ tiêu cơ bản trong Hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) được các phương tiện thông tin đại chúng cung cấp. MỤC TIÊU Sau khi học xong chương này, Sinh viên có khả năng: - Phân biệt được kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô. - Phân biệt được kinh tể thực chứng và kinh tế chuẩn tắc. - Trình bày được các mối quan hệ trong kinh tế vĩ mô.
- Liệt kê được các tác nhân tham gia vào quá trình hoạt động của nền kinh tế. - Xác định được khi nào nền kinh tế đạt được trạng thái cân bằng. - Liệt kê được các mục tiêu và công cụ điều tiết kinh tể vĩ mô. - Phân biệt được các chỉ tiêu cơ bản trong SNA.
- Tính toán được các chỉ tiêu cơ bản trong SNA. - Xác định được đơn vị tính các chỉ tiêu cơ bản trong SNA. - Trình bày được các loại giá được sử dụng để tính các chỉ tiêu trong SNA. CÁC KHÁI NIỆM CÃN BẢN 1.
Các khái niệm căn bản Kỉnh tế học (Economics) là môn khoa học xã hội, nghiên cứu cách thức phần bổ các nguồn lực khan hiếm cho nhiều khả năng sử dụng để sản xuất ra những hàng hóa và dịch vụ, nhằm thỏa mãn nhu cầu cho mọi thành viên trong xã hội 1 Trong khái niệm kinh tế học, chúng ta cần quan tâm một sổ vấn đề sau: Thứ nhất, các nguồn lực sản xuất (các tài nguyên) của mồi quốc gia bao gồm: nguồn tài nguyên thiên nhiên (ví dụ: Đất đai, sông, biển,.); nguồn lao động (bao gồm số lượng người lao động, trình độ chuyên môn và kinh nghiệm của người lao động); nguồn vốn (ví dụ: Máy móc thiết bị, nhà xưởng, nguyên vật liệu,.); trình độ kỹ thuật sản xuất. Thứ hai, các nguồn lực sản xuất của mỗi quốc gia là khan hiểm (hữu hạn). Mặc dù, các nguồn lực sản xuất đều khan hiếm nhưng có nhiều cách phân bổ, sử dụng nguồn lực ’ khác nhau và mồi cách sử dụng nguồn lực sản xuất sẽ tạo ra những khói lượng hàng hóa và dịch vụ khác nhau nhằm đem lại mức thỏa mãn nhu cầu khác nhau cho mọi thành viên trong xã hội. Thứ ba, nhu cầu của mọi thành viên trong xã hội là vô hạn.
Thứ tư, với mâu thuẫn giữa nguồn lực sản xuất khan hiếm và nhu cầu của mọi thành viên trong xã hội là vô hạn. Do đó, kinh tế học ra đời nhằm nghiên cứu phải làm thế nào để các nguồn lực sản xuất của mồi quốc gia ngày càng gia tăng, ngày càng có khả năng sản xuất được nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn. Đe thuận lợi trong nghiên cứu, kinh tế học chia ra làm hai phần: Kinh tế vi mô và Kinh tế vĩ mô. Kinh tế vi mô (Microeconomics) nghiên cứu về cách thức các hộ gia đình, các doanh nghiệp ra quyết định và tác động lẫn nhau trong một thị trường sản phẩm nào đó, để lý giải sự hình thành và vận động của giá cả sản phẩm trong mồi dạng thị trường.
Các thành phần kinh tế được nghiên cứu trong Kinh tế vi mô là hộ gia đình, doanh nghiệp và chính phủ. Kinh tế học vĩ mô (Macroeconomics) nghiên cứu sự hoạt động của nền kinh tế như một tổng thể thống nhất thông qua các biến số kinh tế như: Tổng sản phẩm quốc gia, tỉ lệ thất nghiệp, tỉ lệ lạm phát, cán cân thương mại;.nhằm mục đích ổn định, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tể của quốc gia. Các thành phần kinh tể được nghiên cứu trong Kinh tế vĩ mô là hộ gia đình, doanh nghiệp, chính phủ, nước ngoài. Nội dung nghiên cứu của Kinh tế vi mô và Kinh tế vĩ mô được đề cập dưới hai dạng: Mô tả khách quan các hiện tượng; nêu quan điểm đánh giá có tính chủ quan.
Để 2 phân biệt hai dạng này, các nhà kinh tể học đưa hai khái niệm: Kinh tế học thực chứng và Kinh tế học chuẩn tắc. Kinh tế học thực chứng (Positive economics) là việc sử dụng các lý thuyết và mô hình để mô tả và giải thích các vấn đề kinh tế một cách khách quan và khoa học. Ví dụ: Lạm phát là nguyên nhân làm cho thu nhập thực tế của dân cư giảm. Kinh tế học chuẩn tắc (Normative economics) đưa ra những chỉ dẫn, những quan điểm cá nhân về cách giải quyết các vẩn đề kinh tế.
Ví dụ: Chính phủ nên tăng tiền lương cho cán bộ, công chức, viên chức để tạo động lực làm việc. Các mối quan hệ trong kinh tế vĩ mô ❖ Mối quan hệ giữa sản lượng quốc gia và thất nghiệp Sản lượng quốc gia là vấn đề quan tâm hàng đầu của kinh tế vĩ mô bởi vì mức sống người dân của một quốc gia phụ thuộc vào sản lượng quốc gia. Thất nghiệp bao gồm những người nằm trong tuổi lao động, có khả năng lao động, đang tìm việc làm nhưng chưa có hay đang chờ nhận việc làm. Tình trạng thất nghiệp của quốc gia phụ thuộc vào sản lượng quốc gia.
Cụ thể, sản lượng giảm sẽ làm tăng thất nghiệp, thể hiện nền kinh tế hoạt động không có hiệu quả. ❖ Mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp Lạm phát là tình trạng mức giá chung của nền kinh tế tăng lên trong một khoảng thời gian nhất định. Khi nền kinh tể bị lạm phát (mức giá chung tăng) và tiền lương danh nghĩa không đổi thì tiền lương thực sẽ giảm. Ngoài ra, khi nền kinh tế bị lạm phát cao sẽ làm sản lượng và mức nhân dụng tăng cao.
Lạm phát và thất nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, có sự đánh đổi trong ngắn hạn. Cụ thể, tỷ lệ lạm phát tăng thì tỷ lệ thất nghiệp giảm, tỷ lệ lạm phát giảm thì tỷ lệ thất nghiệp tăng. HỆ THỐNG KINH TẾ vĩ MÔ 1. Các tác nhân của nền kinh tế 3 Các tác nhân của nền kinh tế còn được gọi là các chủ thể kinh tế hay các thành phần kinh tể.
Có 4 chủ thể kinh tế tham gia mua hàng và tạo nên mức cầu trong nền kinh tế là hộ gia đình, doanh nghiệp, chính phủ, yếu tố nước ngoài. Một số khái niệm liên quan đến các chủ thể kinh tế tham gia vào quá trình hoạt động kỉnh tế một nước: ❖ Chủ thể kinh tế 1: Hộ gia đình Thu nhập khả dụng của hộ gia đình (Ydhay DI) là lượng thu nhập còn lại cuối cùng - mà hộ gia đình có toàn quyền sử dụng theo ý muốn cá nhân. Thu nhập khả dụng được chia làm 2 phần: Tiêu dùng và tiết kiệm. Tiêu dùng (C) là lượng tiền mà hộ gia đình dùng để mua hàng tiêu dùng (Ví dụ: Quần áo, thực phẩm,.
Tiết kiệm (S) là phần thu nhập còn lại sau khi hộ gia đình tiêu dùng. Thu nhập khả dụng được tính toán bằng công thức như sau: Yd = c + s Yd: Thu nhập khả dụng của hộ gia đình C: Tiêu dùng (chi tiêu) của hộ gia đình S: Tiết kiệm của hộ gia đình ❖ Chủ thể kinh tế 2: Doanh nghiệp Đầu tư của doanh nghiệp (I) bao gồm các khoản chi tiêu cho tài sản cố định và yếu tổ sản xuất nhằm mục đích sản xuất và dự trữ. Khẩu hao (De) là khoản tiền dùng để bù đắp giá trị hao mòn của tài sản cố định. Đầu tư ròng được tính toán bằng công thức như sau: In = I - De ❖ Chủ thể kinh tế 3: Chính phủ V Thu ngân sách Nguồn thu ngân sách cùa chính phủ bao gồm nguồn thu từ thuế, vay nợ và nhận viện trợ (nếu có).
Trong chương trình kinh tế vĩ mô căn bản, chúng ta giả định rằng nguồn thu của chính phủ chỉ là thu từ thuế. 4 Thuế (Tx) là khoản thu của chính phủ lấy từ doanh nghiệp và hộ gia đình. Thuế (Tx) được chia làm 2 phần: Thuế trực thu và Thuế gián thu. Thuế trực thu (Td) là những loại thuế trực tiếp đánh vào thu nhập.
Ví dụ: Thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế chuyển quyền sử dụng đất,. Thuế giản thu (Ti) là những loại thuế gián tiếp đánh vào thu nhập. Ví dụ: thuế xuất nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng,. Thuế ròng (T hay NT) được tính toán bằng công thức như sau: T (hay NT) = Tx - Tr Từ công thức tính thuế ròng, thu nhập khả dụng của hộ gia đình khi có sự can thiệp của chính phủ được tính toán như sau: Yd = Y - T - Y - (Tx - Tr) = Y - Tx + Tr V Chi ngân sách Chi tiêu của chính phủ được chia thành 2 phần: Chi mua hàng hóa và dịch vụ của chính phủ (G) và chi chuyển nhượng (Tr) Chi mua hàng hóa và dịch vụ của chính phủ (G) là những khoản chi tiêu của chính phủ để mua một lượng hàng hóa và dịch vụ nào đó.
Chi mua hàng hóa và dịch vụ của chính phủ (G) được chia thành 2 phần: Chỉ tiêu thirờng xuyên của chỉnh phủ (Cg): Lượng tiền chính phủ chi ra để trả lương cho cán bộ công nhân viên chức,.trong khu vực công. Chi đầu tư của chỉnh phủ (Ig): Lượng tiền chính phủ chi ra để xây dựng cơ sở hạ tầng như: trường học, bệnh viện, đường sá, sân bay,. Chi mua hàng hóa và dịch vụ của chính phủ (G) được tính toán bằng công thức: G = Cg + Ig 5 Chi chuyển nhượng (Tr) là khoản tiền chính phủ chi cho một đối tượng nào đó mà không cần hàng hóa và dịch vụ đối ứng. Ví dụ: Chi trợ cấp thấp nghiệp, trợ cấp học bổng,.
V Tình hình ngân sách chính phủ Khi so sánh giữa thu (T) và chi ngân sách (G) của chính phủ, chúng ta sẽ biết được tình trạng ngân sách (cán cân ngân sách) của chính phủ như sau: - Khi thu ngân sách lớn hơn chi ngân sách (T > G): Ngân sách thặng dư. - Khi thu ngân sách nhỏ hơn chi ngân sách (T < G): Ngân sách bị thâm hụt. - Khi thu ngân sách bằng chi ngân sách (T = G): Ngân sách cân bằng. ❖ Chủ thể kinh tế 4: Yeu tố nước ngoài (Nước ngoài) Xuất khẩu (X) là lượng tiền thu được do bán hàng hóa và dịch vụ ra nước ngoài.
Nhập khẩu (M) là lượng tiền dùng để mua hàng hóa và dịch vụ từ nước ngoài. Cán cản thương mại (Cán cân ngoại thương) là giá trị xuất khẩu ròng và tính toán bằng công thức: NX = X - M - X > M —* NX > 0: Cán cân thương mại thặng dư (Xuất siêu) - X < M —> NX < 0: Cán cân thương mại thâm hụt (Nhập siêu) - X = M —> NX = 0: Cán cân thương mại cân bằng 1.