mở đầu là các quan điểm lý luận củả William Petty, tiếp đến là A. Smith và kết thúc ở hệ thống lý luận có nhiều giá trị khoa học cửa David Ricardo. 14 Kinh tế chính trị cổ điển Anh nghiên củu các quan hệ kinh tế trong quá trình tái sản xuất, trình bày một cách hệ thống các phạm trù kinh tế chính trị như phân công lao động, hàng hóa, giá trị, tiền tệ, giá cả, giá cả thị trường, tiền lương, lợi nhuận, lợi tức, địa tô, tư bản. để rút ra các quy luật kinh tế.
Lý luận kinh tế chính trị cổ điển Anh đã rút ra kết luận giá trị là do hao phí lao động tạo ra, giá trị khác với của cải. Đó là những đóng góp khoa học rấ t lớn của cấc đại biểu kinh tế chính trị cổ điển Anh vào lĩnh vực lý luận kinh tế chính trị của nhân loại, thể hiện sự phát triển vượt bậc so với hệ thống lý luận của chủ nghĩa trọng nông. Như vậy, kinh tế chính trị là môn khoa học kinh tế nghiên cứu các quan hệ kinh tế để tìm ra các quy luật chi phối sự vận động của cắc hiện tượng và quá trình hoạt động kinh t ế của con người tương ứng với những trình độ phát triển nhất định của nền sản xuất xã hội. Kể từ sau những công trình nghiên cúu của A.
Smith, lý luận kinh tế chính trị chia thạnh hai dòng chính: - Dòng lý thuyết khai thác các luận điểm của A. Smith khái quát dựa trên các quan sát mang tính tâm lý, hành vi để xây dựng thành các lý thuyết kinh tế mối; không tiếp tục đi sâu vào phân tích, luận giải cấẹ quan hệ xã hội trong nền sản xuất. Từ đó, tạo cơ sở cho việc xây dựng các lý thuyết kinh tế vế hành vi của người tiêu dùng, người sản xuất hoặc các đậi lượng lớn của nền kinh tế. Dòng lý thuyết này không ngừng được bổ sung và phát triển bởi 15 rất nhiều nhà kinh tế và nhiều trường phái lý thuyết ở các quốíc gia châu Âu, Bắc Mỹ cho đến ngày nay.
- Dòng lý thuyết thể hiện từ D. Ricardo, kế thừa những giá trị trong lý luận khoa học của A. Smith, tiếp tục bổ sung, hoàn chỉnh nội dung luận giải về các phạm trù kinh tế chính trị, đi sâu phân tích các quan hệ xã hội trong nền sản xuất, tạo ra những giá trị lý luận khoa học chuẩn xác. Mác (1818 - 1883) đã kế thừa trực tiếp những thành quả lý luận khoa học đó của D.
Ricardo để phát triển thành lý luận kinh tế chính trị mang tên ông về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Dựa trên sự kế thừa một cách có phê phán lý luận kinh tế chính trị cổ điển, trực tiếp là của D. Mác đã xây dựng hệ thông lý luận kinh tế chính trị mang tính cách mạng, khoa học, toàn diện về nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, tìm ra những quy luật kinh tế chi phối sự hình thành, phát triển và luận chứng vai trò lịch sử của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Ăngghen (1820 - 1895) cũng là ngưòi có công lao vĩ đại trong việc công bô lý luận kinh tế chính trị, một trong ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác.
Lý luận kinh tế chính trị của c. Angghen được thể hiện tập trung và cô đọng nhất trong bộ Tư bản. Trong bộ Tư bản, c. Mác trình bày một cách khoa học và chỉnh thể các phạm trù cơ bản của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa như: hàng hóa, tiền tệ, tư bản, giá trị thặng dư, tích lũy, tuần hoàn, chu chuyển, lợi nhuận, lợi tức, địa tô, cạnh tranh., rút ra các quy luật kinh tế cơ bản 16 cũng như các quan hệ xã hội giữa các giai cấp trong nền kinh tế thị trường dưối bốĩ cảnh nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, c.
Mác đã tạo ra bưốc nhảy vọt về lý luận khoa học so với D. Ricardo khi phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa, tạo tiền đề cho việc luận giải một cách khoa học về lý luận giá trị thặng dư. Hệ thông lý luận kinh tế chính trị của c. Mác nêu trên được trình bày dưới hình thức các học thuyết lớn như học thuyết giá trị, học thuyết giá trị thặng dư, học thuyết tích lũy, học thuyết về lợi nhuận, học thuyết về địa tô.
Với học thuyết giá trị thặng dư nói riêng và bộ Tư bản nói chung, c. Mác đã xây dựng cơ sở khoa học, cách mạng cho sự hình thành chủ nghĩa Mác như một chỉnh thể làm nền tảng tư tưởng cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Học thuyết giá trị thặng dư của c. Mác đồng thời cũng là cơ sở khoa học luận chứng về vai trò lịch sử của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Ángghen qua đời, V. Lênin (1870 - 1924) tiếp tục kế thừa, bổ sung, phát triển lý luận kinh tế chính trị theo phương pháp luận của c. Mác và có nhiều đóng góp khoa học rất lón; trong đó, nổi bật là kết quả nghiên cứu chỉ ra những đặc điểm kinh tế của độc quyền, độc quyền nhà nưốc trong chủ nghĩa tư bản giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, những vấn đề kinh tế chính trị của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Với ý nghĩa đó, lý thuyết kinh tế chính trị này được định danh vối tên gọi kinh tế chính trị Mấc - Lênin.
Lênin qua đời, các nhà nghiên cứu kinh tế của các đảng cộng sản trên thế giới tiếp tục nghiên cứu, bổ sung vá phát triển kinh tế chính trị Mác - Lênin cho đến ngày nay. Cùng với lý luận của các đảng cộng sản, hiện nay, trên thế giới có rất nhiều nhà kinh tế nghiên cứu kinh tế chính trị theo cách tiếp cận của kinh tế chính trị của c. Mác với nhiều công trình được công bô" trên khắp th ế giới. Các công trình nghiên cứu đó được xếp vào nhánh kinh tế chính trị mácxít (maxist - những người theo chủ nghĩa Mác).
Bên cạnh đó, cũng trong giai đoạn từ th ế kỷ XV đến th ế kỷ XIX, còn có một sô" lý thuyết kinh tê" chính trị của các nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng (thế kỷ XV - XIX) và kỉnh tê" chính trị tiểu tư sản (cuô"i thê" kỷ XIX). Các lý thuyết này hướng vào phê phán những khuyết tậ t của chủ nghĩa tư bản, song nhìn chung các quan điểm dựa trên cơ sở tình cảm cá nhân, chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa nhân đạo, không chỉ ra được các quy luật kinh tê cơ bản của nền kinh tê" thị trường tư bản chủ nghĩa và do đó không luận chứrig được vai trò lịch sử của chủ nghĩa tư bản trong quá trình phát triển của nhân loại. Như vậy, kinh tê" chính trị Mác - Lênin là một trong những dòng lý thuyết kinh tê" chính trị nằm trong dòng chảy tư tưởng kinh tê" phát triển liên tục trên thê" giới, được hình thành, xây dựng bởi c. Lênin, dựa trên cơ sở kế thừa và phát triển những giá trị khoa học kinh tế chính trị của nhân loại trước đó, trực tiếp là những giá trị khoa học của kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh.
Kinh tế chính trị Mác - Lênin có quá trình phát triển không ngừng kể từ giữa thế kỷ XIX đến nay. Kinh tê chính trị Mác - Lênin là một môn khoa học trong hệ thống các môn khoa học kinh tế của nhân loại. II- ĐỐI TƯỢNG, MỤC ĐÍCH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CÚƯ CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN 1. Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin Vối tư cách là một môn khoa học, kinh tế chính trị Mác - Lênin có đôì tượng nghiên cứu riêng.
Trở lại lịch sử kinh tế chính trị, trước c. Mác, ở mỗi thời kỳ phát triển, có các hướng xác định tìm đốĩ tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị tương ứng. Chủ nghĩa trọng thương phát hiện đốĩ tượng nghiên cứu trong lĩnh vực lưu thông; chủ nghĩa trọng nông chuyển đốì tượng nghiên cứu trong các quan hệ kinh tế ồ lĩnh vực nông nghiệp; kinh tế chính trị cổ điển xác định đối tượng nghiên cứư trong nền sản xuất. Mặc dù chưa thật toàn diện, song những tìm kiếm trên có giá trị lịch sử, phản ánh trình độ phát triển từ thô sơ đến từng bước mang tính khoa học của lý luận kinh tế chính trị trước c.
Quan niệm của A. Sm ith về kin h t ế chính trị Kinh tế chính trị là một ngành khoa học gắn với chính khách hay nhà lập pháp hướng tới hai mục tiêu: Thứ nhất, tạo ra nguồn thu nhập dồi dào và sinh kế phong phú cho người dân, hay chính xác hơn là tạo điều kiện để người dân tự tạo ra thu nhập và sinh kế cho bản thân. Thứ hai, tạo ra khả năng có được nguồn ngân sách đầy đủ cho nhà nước hay toàn bộ nhân dân để thực hiện nhiệm vụ công. Kinh tế chính trị hướng tối làm cho cả người dân cũng như quốc gia trỏ nên giàu có.
Smith: A n In g u ừ y in to the N a tu re and Causes o f th e W ealth o f N ations, 1776. Kế thừa những thành tựu khoa học kinh tế chính trị của nhân loại, bằng cách tiếp cận duy vật về lịch sử, c. Ăngghen xác định: Đốì tượng nghiên cứu của kỉnh tế chính trị là các quan hệ của sản xuất và trao đổi trong phương thức sản xuất mà các quan hệ đó hình thành và phát triển. Với quan niệm như vậy, lần đầu tiên trọng lịch sử của kinh tế chính trị học, đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị được xác định một cách khoa học, toàn diện ở mức độ khái quát cao, thông nhất biện chứng giữa sản xuất và lưu thông.
Điều này thể hiện sự phát triển trong lý luận kinh tế chính trị của c. Mác so với các lý luận kinh tế chính trị của các nhà tư tưởng trước c. Mác 20 Luận giải về khoa học kinh tế chính trị, c. Ăngghen chỉ ra: Kinh tế chính trị có thể được hiểu theo nghĩa hẹp hoặc theo nghĩa rộng.
Theo nghĩa hẹp, kinh tế chính trị là khoa học kinh tế nghiên cứu quan hệ sản xuất và trao đổi trong một phương thức sản xuất nhất định. Cách tiếp cận này được c. Mác thể hiện rõ nhất trong bộ Tư bản. Mác cho rằng, đối tượng nghiên cứu của bộ Tư bản là các quan hệ sản xuất và trao đổi của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và mục đích cuối cùng của bộ Tư bẩn là tìm ra quy luật vận động kinh tế của xã hội ấy.