Chương I. TỔNG QUAN VỀ KIỂM TOÁN 1. Khái niệm kiểm toán Trước năm 1975, dịch vụ kiểm toán độc lập của các công ty nước ngoài đã xuất hiện tại Việt Nam. Tháng 5 năm 1991, Công ty Kiểm toán Việt Nam (VACO) được thành lập theo giấy phép số 957 – PPLT của Hội đồng bộ trưởng và Quyết định số 165/TC-QĐ- TCCB của Bộ trưởng Bộ Tài chính và chính thức hoạt động từ tháng 7 năm 1991.
Cũng trong năm này, Công ty Dịch vụ Tư vấn Kế toán và Kiểm toán (AASC) cũng ra đời. Đến cuối năm 1991 tổng số nhân viên của các công ty kiểm toán chỉ có 13 người. Đến tháng 9 năm 2003, số công ty kiểm toán tại Việt Nam đã là 60 công ty, trong đó có 52 công ty đã đăng ký hoạt động tại Bộ Tài chính gồm: 4 doanh nghiệp nhà nước, 4 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, 1 công ty liên doanh, 3 công ty cổ phần, 40 công ty TNHH với 68 văn phòng và chi nhánh ở các tỉnh, thành phố. Bộ Tài chính đã tổ chức 10 kỳ thi tuyển kiểm toán viên cho người Việt Nam, 4 kỳ thi sát hạch cho người nước ngoài, đã cấp 786 chứng chỉ kiểm toán viên cho 734 người Việt Nam và 52 người nước ngoài.
Hiện nay, cả nước có hơn 2.850 nhân viên làm việc trong 52 công ty kiểm toán với hơn 2.195 nhân viên chuyên nghiệp. Trong 676 kiểm toán viên có 60 người Việt Nam và 52 người nước ngoài được cấp chứng chỉ kiểm toán viên quốc tế. Hiệp hội Kế toán công chứng Anh quốc đã đào tạo theo tiêu chuẩn quốc tế ở Việt Nam và cấp chứng chỉ cho 61 người trong đó có 54 người Việt Nam. Đến năm 1994 Kiểm toán nhà nước được thành lập theo Nghị định số 70/CP ngày 11/07/1994 của Chính phủ.
Kiểm toán Nhà nước là cơ quan của Chính phủ giúp Thủ tướng Chính phủ thực hiện chức năng kiểm tra, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của tài liệu, số liệu kế toán, báo cáo quyết toán của các cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, đơn vị kinh tế nhà nước và các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội sử dụng kinh phí do ngân sách nhà nước cấp. Đến năm 2003, Kiểm toán Nhà nước hoạt động theo Nghị định số 93/2003/NĐ-CP ngày 13/08/2003 của Chính phủ, theo nghị định này Kiểm toán Nhà nước mở rộng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức. Từ ngày 01/01/2006 Luật Kiểm toán Nhà nước có hiệu lực, làm thay đổi đại vị pháp lý của Kiểm toán Nhà nước có những thay đổi cơ bản: “Kiểm toán Nhà nước là cơ quan chuyên môn về lĩnh vực kiểm tra tài chính nhà nước do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân thủ theo pháp luật”. Các quan điểm về kiểm toán Các nhà nghiên cứu lịch sử cho rằng, kiểm toán ra đời vào thế kỷ thứ III trước Công nguyên từ thời La Mã cổ đại.
Vì vậy, kiểm toán có nguồn gốc từ Latinh “Audit” gắn liền 6 KIỂM TOÁN TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ VIỆT – ĐỨC HÀ TĨNH với nền văn minh của Ai Cập và La Mã cổ đại. Kiểm toán phát triển mạnh mẽ từ giữa thế kỷ 19, hình ảnh kiểm toán cổ điển thường được tiến hành bằng cách người ghi chép về tài sản đọc to lên cho một bên độc lập “nghe” rồi sau đó chấp nhận thông qua việc chứng thực. Trong Latinh từ “Audit” có nghĩa là “nghe”. Ở Việt Nam, thuật ngữ “kiểm toán” xuất hiện và được sử dụng nhiều từ đầu những năm 1990.
Trước năm 1975, ở miền Nam Việt Nam đã có các hoạt động của các công ty kiểm toán nước ngoài. Cho đến nay, ở trên thế giới cũng như tại Việt Nam vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về kiểm toán. Kiểm toán là kiểm tra độc lập và bày tỏ ý kiến Tại Anh người ta định nghĩa: “Kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và là sự bày tỏ ý kiến về những bản khai tài chính của một xí nghiệp do một kiểm toán viên được bổ nhiệm để thực hiện việc đó theo đúng với bất cứ nghĩa vụ pháp định có liên quan”. Còn quan điểm về kiểm toán ở Pháp như sau: “Kiểm toán là việc nghiên cứu và kiểm tra các tài khoản niên độ của một tổ chức do một người độc lập, đủ danh nghĩa gọi là một kiểm toán viên tiến hành để khẳng định rằng những tài khoản đó phản ánh đúng đắn tình hình tài chính thực tế, không che dấu sự gian lận và chúng được trình bày theo mẫu chính thức của luật định” Hoặc theo quan điểm của các chuyên gia kiểm toán Hoa Kỳ: “Kiểm toán là một quá trình mà qua đó một người độc lập có nghiệp vụ tập hợp và đánh giá rõ ràng về thông tin có thể lượng hóa có liên quan đến một thực thể kinh tế riêng biệt nhằm mục đích xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa thông tin có thể lượng hóa với những tiêu chuẩn đã được thiết lập”.
Kiểm toán là kiểm tra kế toán Theo quan điểm này kiểm toán đồng nghĩa với kiểm tra kế toán, một chức năng của kế toán, một thuộc tính cố hữu của kế toán. Nội dung của hoạt động này là rà soát lại các thông tin chứng từ kế toán đến tổng hợp cân đối kế toán. Đây là quan điểm mang tính truyền thống trong điều kiện kiểm tra chưa phát triển và trong cơ chế tập trung. Theo cơ chế này, Nhà nước vừa là chủ sở hữu vừa thực hiện trực tiếp lãnh đạo nền kinh tế.
Do đó, chức năng kiểm tra của Nhà nước được thực hiện trực tiếp với mọi thực thể kinh tế - xã hội thông qua nhiều khâu như: kiểm tra kế hoạch, kiểm tra thực hiện kế hoạch, xét duyệt hoàn thành kế hoạch, kiểm tra tài chính thường xuyên thông qua “giám sát viên của Nhà nước ở tại các xí nghiệp” là các kế toán trưởng có thể xem xét duyệt kế toán và thanh tr vụ việc cụ thể. Kiểm toán là khoa học kiểm toán độc lập Từ khi chuyển đổi cơ chế kinh tế với nhiều thành phần kinh tế, mở rộng hợp tác đầu tư. Nhà nước lúc này không còn là chủ sở hữu duy nhất, sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước bằng kế hoạch, bằng kiểm tra trực tiếp,… không thể thực hiện đối với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, với các nhà đầu tư nước ngoài. 7 KIỂM TOÁN TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ VIỆT – ĐỨC HÀ TĨNH Các nhà đầu tư, khách hàng, người lao động cần có thông tin chính xác và trung thực từ tài liệu kế toán của các doanh nghiệp để định hướng được hoạt động kinh doanh và đầu tư của mình vào doanh nghiệp, trong khi đó họ không có đội ngũ các chuyên gia kế toán đông đảo như Nhà nước.
Vì vậy, công tác kiểm tra cần được thực hiện rộng rãi, đa dạng nhưng thông tin đưa ra phải khách quan, khoa học, đủ sức thuyết phục và tạo niềm tin cho những người quan tâm. Trong xu thế đó cần phải có một tổ chức độc lập và kiểm tra các thông tin đó một cách khách quan và chính xác. Vì vậy, kiểm toán được tách khỏi hoạt động của kế toán và hình thành khoa học kiểm toán độc lập để phù hợp với xu hướng phát triển tất yếu của lịch sử. Sự hình thành kiểm toán thành một khoa học độc lập nhưng không loại trừ các tác nghiệp kiểm tra thường xuyên của kế toán (trong từng nghiệp vụ kế toán và bằng các phương pháp kế toán).
Kiểm toán đã có đối tượng và phương pháp nghiên cứu riêng. Trong quá trình phát triển, kiểm toán không chỉ kiểm toán bảng khai tài chính hay tài liệu kế toán mà còn kiểm toán nhiều lĩnh vực khác nhau như hiệu quả hoạt động kinh tế, hiệu năng của quản lý xã hội, hiệu lực của hệ thống pháp lý trong từng loại hoạt động,… Theo quan điểm hiện đại, phạm vi kiểm toán rất rộng bao gồm những lĩnh vực chủ yếu sau: - Kiểm toán về thông tin hướng vào việc đánh giá tính trung thực và hợp pháp của các tài liệu làm cơ sở pháp lý cho việc giải quyết các mối quan hệ về kinh tế tạo niềm tin cho những người quan tâm đến tài liệu kế toán. - Kiểm toán tính quy tắc hướng vào việc đánh giá tình hình thực hiện các chế độ, thể lệ, luật pháp của đơn vị kiểm tra trong quá trình hoạt động. - Kiểm toán hiệu qủa có đối tượng trực tiếp là các yếu tố, các nguồn lực trong từng loại nghiệp vụ kinh doanh: mua bán, sản xuất hay dịch vụ,…Kiểm toán loại này giúp ích trực tiếp cho việc hoạch định chính sách và phương hướng, giải pháp cho việc hoàn thiện hoặc cải tổ hoạt động kinh doanh của đơn vị được kiểm toán.
- Kiểm toán hiệu năng được đặc biệt quan tâm ở khu vực công cộng nơi mà lợi ích và hiệu quả không còn giữ nguyên vẹn ý nghĩa của nó trong doanh nghiệp, nơi mà năng lực quản lý cần được đánh giá toàn diện, bổ sung thường xuyên. Những loại kiểm toán này cũng cần và có thể ứng dụng đối với quản lý toàn bộ doanh nghiệp hoặc đối với từng bộ phận quản lý của mọi đơn vị kiểm toán. Các quan điểm trên không hoàn toàn đối lập nhau mà phản ánh quá trình phát triển của cả thực tiễn và lý luận về kiểm toán 1. Khái niệm về kiểm toán Khái niệm về kiểm toán được chấp nhận phổ biến hiện nay là: “ Kiểm toán là quá trình thu thập, đánh giá bằng chứng về những thông tin được kiểm tra nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa những thông tin đó với các 8 KIỂM TOÁN TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ VIỆT – ĐỨC HÀ TĨNH chuẩn mực đã được thiết lập.
Quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi các kiểm toán viên đủ năng lực và độc lập”. Các thuật ngữ trong định nghĩa trên được hiểu như sau: - Thông tin được kiểm tra: có thể là báo cáo tài chính của các doanh nghiệp, tờ khai nộp thuế, quyết toán ngân sách của các doanh nghiệp nhà nước,…Kết quả kiểm toán sẽ giúp cho người sử dụng đánh giá độ tin cậy của thông tin này. - Các chuẩn mực được thiết lập: là cơ sở để đánh giá các thông tin được kiểm tra, chúng thay đổi tùy theo thông tin được kiểm tra. Chẳng hạn, như đối với báo cáo tài chính của đơn vị, kiểm toán dựa vào các chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành, còn đối với tờ khai nộp thuế thì chuẩn mực để đánh giá sẽ là Luật thuế,… - Bằng chứng kiểm toán: là các thông tin để chứng minh cho ý kiến nhận xét của kiểm toán viên.