chương 1. Khái niệm về kinh doanh, doanh nghiệp, khởi tạo và khởi nghiệp nghiệp xã hội(1) 1. Kinh doanh Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị 2 trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận (Theo khoản 21 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020). Doanh nghiệp Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.
Khởi tạo doanh nghiệp (2) Khởi tạo là quá trình khởi nghiệp dựa trên ý tưởng sáng tạo, tạo ra sản phẩm mới; hoặc sản phẩm cũ nhưng có điểm khác nổi trội, ưu tú hơn so với những sản phẩm, dịch vụ đã từng có trên thị trường và được phát triển nhanh chóng vượt bậc. Khởi nghiệp là bắt đầu một nghề nghiệp, sự nghiệp. Khởi nghiệp theo từ điển tiếng Việt nghĩa là bắt đầu một điều gì đó mới, một thời kỳ mới. Khởi nghiệp có thể hiểu theo nghĩa tiếng Việt là khi một cá nhân có ý định tự mình bắt đầu một công việc kinh doanh riêng và tự mình làm chủ.
Hay có thể hiểu khởi nghiệp là quá trình hiện thực ý tưởng kinh doanh, bao gồm quá trình thành lập và vận hành doanh nghiệp kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu. Khởi tạo doanh nghiệp thường được dùng ngắn gọn với hai từ “Khởi nghiệp”, đề cập tới việc một cá nhân hay nhóm người khởi sự công việc kinh doanh và theo đuổi con đường kinh doanh như một lựa chọn nghề nghiệp (Trần Văn Trang, 2017). Đối với giới học thuật, “khởi nghiệp là quá trình một cá nhân hay nhóm tìm kiếm và theo đuổi một cơ hội kinh doanh” hoặc đó là “quá trình sáng tạo ra giá trị bằng cách huy động các nguồn lực để tận dụng cơ hội” hoặc đó là “quá trình biến các ý tưởng kinh doanh ban đầu trở thành hiện thực” (Trần Văn Trang, 2017). Có nhiều quan điểm đưa ra các khái niệm khác nhau về Starup, khởi nghiệp và khởi tạo doanh nghiệp.
Có những quan điểm cho rằng chúng là một, cũng có 3 những quan điểm trái ngược cho rằng các thuật ngữ này hoàn toàn khác nhau. Trên sự hiểu biết và kinh nghiệm tìm đọc của tác giả, cuốn giáo trình này đề xuất quan điểm đồng nhất các khái niệm “khởi nghiệp” và “khởi tạo doanh nghiệp”. Đồng thời, Starup được hiểu như là một trong những loại hình, cách thức mà người ta có thể lựa chọn để khởi nghiệp. Khởi tạo doanh nghiệp (Khởi nghiệp) là một hành trình chuẩn bị, thành lập và phát triển một doanh nghiệp dựa trên những suy nghĩ và cách làm khác để tạo ra sản phẩm và/hoặc cách phục vụ mới tốt hơn cho nhu cầu đời sống xã hội.
Những suy nghĩ và cách làm khác được gọi là công nghệ. Khởi nghiệp xã hội Doanh nghiệp xã hội lần đầu tiên xuất hiện tại Anh và hiện nay vẫn là nơi phát triển nhất thế giới. Bên cạnh đó, Mỹ, Cannada, Singapo và Israel cũng là những nước thuộc Top nằm trong mạng lưới Khởi nghiệp Xã hội toàn cầu, là những nước thành công trong việc kết hợp giải quyết các vấn đề xã hội gắn liền với mô hình kinh doanh của doanh nghiệp. Các ý tưởng kinh doanh xã hội thường tập trung tận dụng nguồn rác thải để tái chế sản xuất phân bón tự nhiên, tạo cơ hội việc làm cho người nội trợ thất nghiệp hoặc những mô hình giáo dục sáng tạo để phát triển tiềm năng của trẻ em hay bảo tồn văn hoá… Doanh nghiệp xã hội là doanh nghiệp cũng hoạt động theo cơ chế thị trường nhưng với triết lý kinh doanh gắn liền với xây dựng cuộc sống bền vững, giải quyết các vấn đề xã hội chứ không đơn thuần là lợi nhuận.
Như vậy, Khởi nghiệp xã hội là việc áp dụng các phương thức sáng tạo, theo định hướng thị trường nhằm giải quyết những nguyên nhân gốc rễ của vấn đề xã hội và môi trường, từ đó tạo ra sự thay đổi mang tính hệ thống và cung cấp giải pháp bền vững. Vai trò và những tác động của môi trường đến khởi tạo doanh nghiệp (3) 4 Môi trường là tập hợp các yếu tố, các điều kiện thiết lập nên khung cảnh sống của một chủ thể, từ đó người ta thường cho rằng môi trường kinh doanh là tổng hợp các yếu tố, các điều kiện có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Các yếu tố, các điều kiện cấu thành môi trường kinh doanh luôn luôn có quan hệ tương tác với nhau và đồng thời tác động đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nhưng mức độ và chiều hướng tác động của các yếu tố, điều kiện lại khác nhau. Trong cùng một thời điểm, với cùng một đối tượng có yếu tố tác động thuận, nhưng lại có yếu tố tạo thành lực cản đối với sự phát triển của doanh nghiệp.
Khi nói đến môi trường kinh doanh của doanh nghiệp, người ta thường chia ra môi trường bên trong và môi trường bên ngoài Môi trường kinh doanh bên ngoài của doanh nghiệp bao gồm: - Môi trường vĩ mô (môi trường tổng quát) - Môi trường vi mô (môi trường tác nghiệp) Khi chúng ta phân tích môi trường bên ngoài doanh nghiệp nghĩa là chúng ta đang phân tích để thấy được thách thức và cơ hội mà bên ngoài ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới doanh nghiệp kinh doanh. Khi phân tích môi trường bên trong của doanh nghiệp là khi nhà doanh nghiệp muốn thấy được bản chất của doanh nghiệp, điểm mạnh và điểm yếu để có những giải pháp thích hợp nhất. Môi trường bên ngoài doanh nghiệp 2. Môi trường vĩ mô (môi trường tổng quát) của doanh nghiệp a) Môi trường kinh tế Các yếu tố chủ yếu trong môi trường kinh tế là hoạt động của nền kinh tế và mức độ tin tưởng của người tiêu dùng.
Đây là hai bộ phận có liên hệ chặt chẽ với nhau nhưng không giống nhau. Hoạt động của nền kinh tế là những gì thực tế 5 đang diễn ra, còn mức tin tưởng của người tiêu dùng như thế nào về điều đang diễn ra. Hoạt động của nền kinh tế được đánh giá bằng hệ thống các chỉ tiêu, trong đó quan trọng nhất là các chỉ tiêu: giá trị tổng sản phẩm quốc nội (GNP và GDP); mức thu nhập bình quân đầu người; tỷ lệ thất nghiệp; lượng hàng hoá bán ra hàng tháng của các nhóm sản phẩm chủ yếu; tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản; chỉ số tăng sản xuất của sản phẩm… Mức độ tin cậy của người tiêu dùng chịu ảnh hưởng của các nhân tố chủ yếu sau: - Sự biến động của chỉ số giả cả hàng hoá, tỷ lệ lạm phát. Khi người tiêu dùng thấy rằng giá cả đang tăng nhanh hơn thu nhập của họ, thì họ quan tâm nhiều hơn tới việc duy trì sức mua hiện tại của họ.
- Các thông tin kinh tế được thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng. - Các sự kiện khác về đời sống kinh tế - xã hội diễn ra ở trong nước và trên thế giới cũng có thể ảnh hưởng tới mức độ tin tưởng của người tiêu dùng. Nếu như hoạt động của nền kinh tế là tốt và mức độ tin cậy của người tiêu dùng tăng, nhà quản trị doanh nghiệp có thể dự đoán rằng tổng lượng bán nói chung là tăng và những kiểu sản phẩm mà người tiêu dùng mua sẽ gắn liền với sự phát triển của ngành đó. b) Môi trường công nghệ - kỹ thuật Hầu như tất cả các hàng hoá sản phẩm được tạo ra hiện nay đều gắn liền với những thành tựu khoa học kỹ thuật - công nghệ.
Có thể nói rằng, chúng ta đang sống trong thời kỳ kỹ thuật công nghệ phát triển. Kỹ thuật - công nghệ với tư cách là một bộ phận của môi trường kinh doanh bên ngoài tác động tác động đến doanh nghiệp trên hai mặt: - Thứ nhất, công nghệ bên ngoài tác động đến doanh nghiệp thông qua công nghệ bên trong. Đó chính là tốc độ phát triển của khoa học kỹ thuật thể hiện thông 6 qua phát minh, ứng dụng chúng vào cuộc sống đã làm cho công nghệ bên trong của doanh nghiệp nhanh chóng lạc hậu. - Thứ hai, công nghệ làm xuất hiện các đối thủ cạnh tranh tiềm năng, đó là những đối thủ kinh doanh các sản phẩm có thể thay thế sản phẩm mà doanh nghiệp đang kinh doanh.
c) Môi trường tự nhiên Bao gồm các yếu tố liên quan: Tài nguyên thiên nhiên, đất đai, khí hậu thời tiết. Thực tế cho thấy sự ô nhiễm không khí và môi trường xung quanh đã đến mực báo động. Vấn đề đặt ra đối với các doanh nghiệp và chính phủ là không thể thờ ơ với công việc này. Hiện nay, người ta đanh tìm cách đối phó với tình trạng ô nhiễm bằng những cách riêng của mình.
Các yếu tố môi trường tự nhiên ảnh hưởng đến doanh nghiệp trên các mặt sau: - Tạo ra thị trường cung ứng các yếu tố đầu vào cho các doanh nghiệp. - Tác động đến dung lượng và cơ cấu thị trường hàng tiêu dùng. - Tác động đến việc làm và thu nhập của dân cư, do đó ảnh hưởng đến sức mua và khả năng tiêu thụ hàng hoá của doanh nghiệp. d) Môi trường văn hoá - xã hội Văn hoá được hiểu là một hệ thống giá trị, quan niệm, niềm tin, truyền thống và các chuẩn mực hành vi của một nhóm người cụ thể.
Văn hoá theo nghĩa này là một hệ thống những giá trị được cả tập thể giữ gìn. Văn hoá được hình thành trong những điều kiện nhất định về vật chất, môi trường tự nhiên, các điều kiện sống, kinh nghiệm, lịch sử của cộng đồng và có sự tác động qua lại với các nền văn hoá khác. Các giá trị văn hoá – xã hội được hiểu là các ý tưởng được coi trọng hoặc các mục tiêu mà mọi người mong muốn hướng tới. Các giá trị văn hoá – xã hội có sự khác nhau giữa nhóm người này với nhóm khác, giữa dân tộc này với dân 7 tộc khác.
Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế các nước và sự giao lưu các nền văn hoá có thể dẫn những thay đổi ít nhiều các giá trị văn hoá – xã hội có ảnh hưởng tới Marketing. Những thay đổi đó là: - Thay đổi từ sự thoả mãn trong tương lai với sự thoả mãn tức thì. Trước đây có sự khác biệt rất lớn trong phong cách sống của người dân ở miền Bắc và miền Nam.