CHƯƠNG 1 HÌNH THÁI CẤU TẠO CƠ THỂ CÁ MĐ10-01 Giới thiệu: Hình thái cấu tạo cơ thể cá trình bày đặc điểm, hình dạng, chức năng của các cơ quan bên ngoài và các hệ cơ quan bên trong cơ thể cá. Mục tiêu: - Kiến thức: trình bày được các nhóm hình dạng và các cơ quan bên ngoài cơ thể cá; hiểu cấu tạo và chức năng của một số hệ cơ quan trong cơ thể cá. - Kỹ năng: xác định đúng các loại hình dạng cá, các cơ quan bên ngoài và bên trong cơ thể cá. - Năng lực tự chủ và trách nhiệm: có năng lực tự làm việc độc lập hay làm việc nhóm, có trách nhiệm với công việc được giao.
Hình dạng và cơ quan bên ngoài cơ thể cá 1. Hình dạng cá Trên thế giới hiện nay có hơn 20.000 loài cá đã được định danh, hình dạng của chúng cũng rất phong phú và đa dạng. Vì vậy, để dễ dàng cho việc mô tả và nhận dạng các loài cá, các nhà khoa học dựa trên 3 trục chính trên cơ thể để phân chia hình dạng cá. Ba trục đó là trục đầu đuôi, trục lưng bụng và trục phải trái.1: Các trục trên cơ thể cá (Nguồn: tepbac.com) 1: trục đầu đuôi, 2: trục lưng bụng, 3: trục phải trái Theo đó, hình dạng của đa số các loài cá có bốn dạng chính: dạng thủy lôi, dạng dẹp bên, dạng dẹp bằng và dạng ống dài.
Tuy nhiên, sự phân chia này cũng chỉ mang tính chất tương đối, vì có một số loài cá hình dạng của chúng rất đặc biệt, không xếp vào những dạng chung này. Dạng thủy lôi Những loài cá dạng thủy lôi có đặc điểm như sau: trục đầu đuôi dài nhất trong 3 trục, trục phải trái và trục lưng bụng ngắn tương đương nhau. Cá dạng này thường có đầu nhọn đuôi thon nên chúng bơi lội nhanh nhẹn, chiếm tỷ lệ cao ở các thủy vực, các tầng nước. Thường những loài cá dữ, cá có tập tính di cư, cơ thể có dạng này.
Ví dụ như cá lóc, cá bống tượng,… b. Dạng dẹp bên Cơ thể của các loài cá dạng dẹp bên có đặc điểm chính là trục phải trái ngắn nhất so với trục đầu đuôi và trục lưng bụng. Trục đầu đuôi có thể bằng hoặc dài hơn so với trục lưng bụng. Nhóm cá này thường bơi lội chậm chạp, sống ở các thủy vực nước tĩnh hoặc nước chảy yếu như: đầm, hồ, hạ lưu các con sông.
Tuy nhiên chúng cũng chiếm tỉ lệ cao trong thủy vực, ví dụ như cá mè vinh, cá sơn, cá mú,… c. Dạng dẹp bằng Cơ thể cá dẹp bằng có đặc điểm chính là trục lưng bụng ngắn nhất so với hai trục còn lại. Trục đầu đuôi có thể dài bằng hoặc dài hơn so với trục phải trái. Các loài cá này cũng bơi lội chậm chạp, thường sống ở tầng đáy của thủy vực.
Chúng chiếm số lượng ít hơn so với nhóm cá dạng thủy lôi và dẹp bên, ví dụ như cá đuối, cá chai. Dạng ống dài Các loài cá này có trục đầu đuôi rất dài, trục lưng bụng và trục phải trái ngắn tương đương nhau, do đó nhìn hình dạng của chúng giống như ống dài. Hầu hết những loài cá này sống chui rúc trong hang nên các vi thường kém phát triển, bơi lội chậm chạp như lươn, cá bống kèo, cá chình … Tuy nhiên, cũng có một số loài sống ở tầng mặt của các thủy vực như cá lìm kìm, cá nhái. Dạng đặc biệt - Nhóm cá thuộc bộ cá bơn: có dạng dẹp bên tuy nhiên do chúng sống đáy và nằm sát mặt đáy thủy vực nên hai mắt kém phát triển, bị lệch về một bên.
- Nhóm cá nóc: có hình dạng tròn trịa, một số loài còn có thêm những phần rất đặc biệt như cá nóc nhím có gai sắc nhọn như lông nhím, hay cá nóc hòm có lớp giáp cứng liên kết với nhau thành hình hộp bao quanh cơ thể. Các cơ quan bên ngoài cơ thể cá Hình 1.2: Các cơ quan bên ngoài cơ thể cá (Nguồn: Loan, 2004) a. Miệng Hình dạng và kích thước của miệng thay đổi theo tập tính của từng loài cá. - Hình dạng miệng: Dựa vào chiều dài xương hàm trên và xương hàm dưới, người ta chia miệng cá thành 3 dạng: + Cá miệng trên: chiều dài xương hàm trên nhỏ hơn chiều dài xương hàm dưới.
Nhóm cá này thường bắt mồi ở tầng mặt, ví dụ như cá thiểu, cá mè trắng. + Cá có miệng giữa: chiều dài xương hàm trên và xương hàm dưới tương đương nhau. Cá có dạng miệng giữa có thể bắt mồi tầng giữa, tầng mặt và tầng đáy, ví dụ cá tra… + Cá miệng dưới: chiều dài hàm trên lớn hơn chiều dài hàm dưới. Cá miệng dưới thường bắt mồi ở tầng đáy, ví dụ: cá trôi, cá hú… Ở đây còn có khái niệm miệng cận trên hay miệng cận dưới.
Hai khái niệm này thể hiện chiều dài của xương hàm trên và xương hàm dưới chỉ hơi chênh lệch nhau một ít. 3 - Kích thước miệng: + Cá miệng nhỏ, hẹp: khoảng cách của 2 mép miệng nhỏ hơn khoảng cách của 2 mắt + Cá miệng to, rộng: khoảng cách của 2 mép miệng lớn hơn khoảng cách của 2 mắt + Cá miệng vừa: khoảng cách của 2 mép miệng bằng khoảng cách của 2 mắt Cá miệng vừa Cá miệng dưới Cá miệng trên Cá miệng rộng Cá miệng hẹp Hình 1.3: Các dạng miệng của cá (Nguồn: tepbac. Mũi Cá có hai đôi lỗ mũi nằm hai bên đầu của cá. Đôi lỗ trước thường thông với đôi lỗ mũi sau.
Chức năng của mũi cá là cảm nhận mùi vị thức ăn hay giúp chúng phân biệt được quần đàn hoặc địch hại. Râu Cá có bốn đôi râu và được gọi tên theo vị trí của chúng như sau: + Râu mũi: một đôi nằm kề bên đôi lỗ mũi trước. + Râu mép: một đôi nằm hai bên mép. Đây là đôi râu dài nhất.
+ Râu hàm: một đôi nằm kế đôi râu mép. + Râu càm: một đôi nằm ở hàm dưới, kế râu hàm.4: Các loại râu của cá (Nguồn: docau.com) Số lượng và chiều dài của râu khác nhau tùy loại cá. Các loại cá sống và kiếm ăn tầng đáy thường có râu phát triển, trong khi đó các loài cá sống tầng mặt thường râu không đủ 4 đôi và rất ngắn hoặc là không có râu. Râu có chức năng là cơ quan xúc giác của cá.
Mắt Cá có hai mắt ở phần đầu, có chức năng là cơ quan thị giác của cá. Hình dạng và chức năng của mắt cũng thay đổi theo tập tính sống của từng loài cá. - Cá sống tầng mặt hoặc tầng giữa: mắt thường to và nằm hai bên nửa trên của đầu. Ví dụ: mắt cá lóc, cá he, … - Cá sống chui rút hoặc sống ở tầng đáy: mắt thường kém phát triển hoặc thoái hóa.
Ví dụ: mắt cá trê, lươn, cá lưỡi mèo,… 5 - Cá sống vùng triều: mắt to và thường nằm trên hai cuống ở đỉnh đầu. Ví dụ: cá thòi lòi, cá bống sao,… e. Mang Cá có hai lỗ mang nằm ở hai bên đầu, mỗi lỗ mang được che chở bởi nắp mang. Trong mỗi lỗ mang có 4 - 5 cung mang, thường thì cung mang thứ 5 rất nhỏ so với các cung mang khác hoặc là bị tiêu biến đi.
Một số ít loài cá chỉ 3 cung mang. Mang có chức năng là cơ quan hô hấp chính của cá. Vây (vi) Vây là cơ quan di chuyển và giữ thăng bằng của cá. Cấu tạo của vây gồm màng da, các tia vây và các cơ ở gốc vây.
- Màng da: nằm ở ngoài cùng. Nhiệm vụ của màng da là bao quanh và nối các tia vây với nhau. - Tia vây: dựa vào cấu tạo có thể chia các tia vây thành các dạng sau: + Gai cứng: không phân đốt, không phân nhánh, cấu trúc đơn, hóa xương hoàn toàn. + Gai mềm: không phân đốt, không phân nhánh, cấu trúc đơn, hóa xương không hoàn toàn.
+ Tia mềm không phân nhánh: phân đốt, không phân nhánh, cấu trúc đôi. + Tia mềm phân nhánh: phân đốt, phân nhánh, cấu trúc đôi. - Cơ gốc vây: nằm ở gốc các vây. Các cơ này phối hợp với các tia vây giúp cá bơi lội và giữ thăng bằng.5: Cấu tạo tia vi đuôi của cá 6 g.
Cơ quan đường bên Cơ quan đường bên thường nằm ở hai bên thân cá. Đây là một trong những cơ quan cảm giác của cá. Lỗ hậu môn – lỗ sinh dục Lỗ hậu môn nằm ở mặt bụng của cá, trước lỗ sinh dục. Đây là cơ quan bài tiết các chất thải trong quá trình tiêu hóa của cơ thể cá.
Lỗ sinh dục nằm ở mặt bụng của cá, phía trước gốc vi hậu môn. Lỗ sinh dục là nơi cá phóng trứng hoặc cá con ra môi trường ngoài. Lỗ niệu: nằm ở giữa lỗ sinh dục và lỗ hậu môn, có vai trò là cơ quan bài tiết nước tiểu cho cá. Lỗ niệu và lỗ sinh dục chỉ có ở có cái.
Ở cá đực lỗ niệu và lỗ sinh dục chỉ là một, vừa là nơi phóng tinh trùng vừa là nơi bài tiết nước tiểu của cá và được gọi tên chung là lỗ niệu sinh dục. Vẩy Dựa vào nguồn gốc phát sinh và cấu tạo, vẩy cá được chia làm 3 loại là: vẩy tấm, vẩy láng và vẩy xương.6: Các loại vẩy ở cá (Nguồn: Loan, 2004) Vẩy láng: chỉ có ở cá cổ và cá hóa thạch Vẩy tấm - Có ở cá đuối và cá nhám. 7 - Cấu tạo của vẩy tấm gồm 2 phần: + Gai vẩy: nhọn, lộ ra ngoài và hướng về phía sau. + Tấm gốc chìm dưới da.
Bên trong tấm gốc có xoang tủy, mạch máu và dây thần kinh phân bố. Vẩy xương: có ở cá xương, vẩy cá xếp chồng lên nhau theo hình mái ngói * Hình dạng cấu tạo của một vẩy thường gồm 4 phần: - Phần trước: cắm vào da, có nhiều rãnh đồng tâm và xuyên tâm - Phần sau: lộ ra ngoài, có nhiều tế bào sắc tố phân bố, đôi khi có gai ở rìa sau của vẩy. Trong phân loại, dựa vào phần sau của vẩy xương để chia làm hai loại là: vẩy tròn và vẩy lược. Vẩy tròn là những vẩy rìa sau không có gai, trơn láng, vẩy lược là những vẩy rìa sau có gai nên sờ vào có cảm giác rất nhám.
- Phần bên trên và phần bên dưới có nhiều rãnh đồng tâm. * Hình dạng cấu tạo của một vẩy đường bên ngoài 4 phần trên còn có thêm ống cảm giác nằm ở phần sau của vẩy. * Ý nghĩa của vẩy xương - Ứng dụng trong nghiên cứu về phân loại để xác định giống, loài cá. - Ứng dụng trong nghiên cứu về sinh học để nghiên cứu về dinh dưỡng và tăng trưởng của cá.