mở đầu cho giai đoạn phát triển mạnh mẽ của Internet tại Việt Nam. Tính tới hết Quý III/2012, Internet Việt Nam có 31.878 người sử dụng, chiếm tỉ lệ 35,49 % dân số. Việt Nam đứng thứ 18/20 quốc gia có số người dùng Internet lớn nhất thế giới, đứng thứ 8 khu vực Châu Á và đứng vị trí thứ 3 ở khu vực Đông Nam Á (Asean). So với năm 2000, số lượng người dùng Internet Việt Nam đã tăng khoảng hơn 15 lần.
(Theo số liệu thống kê của VNNIC, tập hợp từ các số liệu báo cáo của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet) 5 - Các nhà cung cấp dịch vụ Internet: o ISP (Internet Service Provider) - Nhà cung cấp dịch vụ Internet. Nhà cung cấp dịch vụ Internet cấp quyền truy cập Internet qua mạng viễn thông và các dịch vụ như: Email, Web, FTP, Telnet, Chat. ISP được cấp cổng truy cập vào Internet bởi IAP (Internet Access Provider). Hiện tại ở Việt nam có 16 ISP đăng ký cung cấp dịch vụ, một số nhà cung cấp dịch vụ lớn trong đó là: Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT), Công ty đầu tư phát triển công nghệ FPT, Công ty điện tử viễn thông quân đội (Viettel).
Nếu hiểu Internet như một siêu xa lộ thông tin thì IAP là nhà cung cấp phương tiện để đưa người dùng vào xa lộ. Nói cách khác IAP là kết nối người dùng trực tiếp với Internet. IAP có thể thực hiện cả chức năng của ISP nhưng ngược lại thì không. Một IAP thường phục vụ cho nhiều ISP khác nhau.
6 o ISP dùng riêng ISP dùng riêng được quyền cung cấp đầy đủ dịch vụ Internet. Điều khác nhau duy nhất giữa ISP và ISP dùng riêng là ISP dùng riêng không cung cấp dịch vụ Internet với mục đích kinh doanh. Đây là loại hình dịch vụ Internet của các cơ quan hành chính, các trường đại học hay viện nghiên cứu. o ICP (Internet Content Provider) - Nhà cung cấp dịch vụ nội dung thông tin Internet.
ICP cung cấp các thông tin về: kinh tế, giáo dục, thể thao, chính trị, quân sự (thường xuyên cập nhật thông tin mới theo định kỳ) đưa lên mạng. o OSP (Online Service Provider) - Nhà cung dịch vụ ứng dụng Internet. OSP cung cấp các dịch vụ trên cơ sở ứng dụng Internet (OSP) như: mua bán qua mạng, giao dịch ngân hàng, tư vấn, đào tạo… USER - Người sử dụng Internet. Người sử dụng dịch vụ Internet là tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ Internet thông qua nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP).
Người sử dụng cần thoả thuận với một ISP hay một ISP dùng riêng nào đó về các dịch vụ Internet được sử dụng và cách thức thanh toán. Có nhiều phương thức kết nối, ví dụ như: qua đường điện thoại, qua vệ tinh, kết nối không dây và kết nối thông qua kênh thuê riêng. Mỗi phương thức có tốc độ truyền nhận dữ liệu khác nhau, tùy thuộc vào nhu cầu sử dụng và điều kiện của người sử dụng. Người sử dụng có thể kết nối trực tiếp đến nhà cung cấp dịch vụ hoặc người sử dụng có thể kết nối thông qua mạng cục bộ đã có liên kết Internet.4: Các phương thức kết nối Internet phổ biến.
7 Mối liên quan giữa các IAP - ISP - ICP - USER được mô tả tổng quát theo sơ đồ sau: Hình 1.5: Mối liên quan giữa các IAP - ISP - ICP - USER 1. Quá trình phát triển E-learning 1. Khái niệm về E-learning E-learning là viết tắt của từ Electronic Learning. Thuật ngữ E-learning ra đời và trở nên quen thuộc trong một vài thập kỷ gần đây, do sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông, các phương thức giáo dục đào tạo ngày càng được cải tiến nhằm tạo điều kiện thuận lợi, nâng cao chất lượng, tiết kiệm thời gian và kinh phí cho người học, cho phép người học có thể học mọi lúc mọi nơi và không kể tuổi tác.
E-learning có thể được hiểu đơn giản là quá trình đào tạo trong đó việc dạy và học được thực hiện dựa trên các phương tiện điện tử như TV, máy tính, mạng Internet. Ngay từ khi mới ra đời, E-learning đã được áp dụng rộng rãi trong giáo dục, đào tạo và huấn luyện của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển như Anh, Mỹ, Nhật. Không những thế, làn sóng ứng dụng E-learning ngày càng mạnh mẽ, lan toả ra nhiều quốc gia khác trên thế giới do sự thuận tiện và tính hữu dụng của nó. Tập đoàn dữ liệu quốc tế (IDG) đã nhận định rằng sẽ có sự phát triển bùng nổ trong lĩnh vực E-learning và điều này đã được minh chứng minh qua thực tế.
Quá trình phát triển E-learning Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin và phương pháp giáo dục đào tạo, sự phát triển của E-learning có thể chia ra thành 4 thời kỳ như sau. o Trước năm 1983: Thời kỳ này, máy tính chưa được sử dụng rộng rãi, phương pháp giáo dục “Lấy giảng viên làm trung tâm” là phương pháp phổ biến nhất trong các trường học. Người học chỉ có thể trao đổi tập trung quanh giảng viên và các bạn học. Đây là phương pháp giáo dục đào tạo truyền thống.
o Giai đoạn 1984 - 1993: 8 Sự ra đời của hệ điều hành Windows 3.1, máy tính Macintosh, phần mềm trình diễn Powerpoint, cùng các công cụ đa phương tiện khác đã mở ra một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên đa phương tiện. Những công cụ này cho phép tạo ra các bài giảng có tích hợp hình ảnh và âm thanh dựa trên công nghệ CBT (Computer Based Training). Bài học được phân phối đến người học qua đĩa CD-ROM hoặc đĩa mềm. Vào bất kỳ thời gian nào, ở đâu, người học cũng có thể mua và tự học.
Tuy nhiên sự hướng dẫn của giảng viên trong quá trình này rất hạn chế. o Giai đoạn 1994 - 1999: Khi công nghệ Web được phát minh ra, các nhà cung cấp dịch vụ đào tạo bắt đầu nghiên cứu cách thức cải tiến phương pháp giáo dục bằng công nghệ này. Thư điện tử, trình duyệt Web, các trang Web với ngôn ngữ HTML và JAVA, các công nghệ truyền âm thanh hình ảnh trên mạng bắt đầu trở lên phổ dụng đã làm thay đổi bộ mặt của đào tạo bằng đa phương tiện. Người thầy thông thái đã dần lộ rõ thông qua các phương tiện: e-mail, CBT, qua Intranet với text và hình ảnh đơn giản, đào tạo bằng công nghệ WEB với hình ảnh chuyển động tốc độ thấp đã được triển khai trên diện rộng.
o Giai đoạn 2000 - 2005: Các công nghệ tiên tiến bao gồm JAVA và các ứng dụng mạng IP, công nghệ truy nhập mạng và băng thông Internet được nâng cao, các công nghệ thiết kế Web tiên tiến đã trở thành một cuộc cách mạng trong giáo dục đào tạo. Ngày nay thông qua Web, giáo viên có thể kết hợp hướng dẫn trực tuyến (hình ảnh, âm thanh, các công cụ trình diễn) tới mọi người học, nâng cao hơn chất lượng dịch vụ đào tạo. Càng ngày công nghệ Web càng chứng tỏ có khả năng mang lại hiệu quả cao trong giáo dục đào tạo, cho phép đa dạng hoá các môi trường học tập. Tất cả những điều đó tạo ra một cuộc cách mạng trong đào tạo với giá thành rẻ, chất lượng cao và hiệu quả.
Đó chính là làn sóng thứ 2 của E-learning. o Giai đoạn 2006 đến nay: Với sự phát triển của công nghệ truyền dẫn Internet tốc độ cao, công nghệ Web với flash, công nghệ xử lý ảnh và video tốc độ cao, E-learning bước vào giai đoạn mới với các lớp học được truyền hình trực tiếp (online), các kho video có thể truy nhập mọi lúc, các bài học có sự đồng bộ giữa âm thanh, hình ảnh và slide cùng với trao đổi trực tiếp với giảng viên (chat). Một số định nghĩa tiêu biểu về E-learning Có nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau về E-learning, dưới đây sẽ trích ra một số định nghĩa E-learning đặc trưng nhất: - E-learning là sử dụng các công nghệ Web và Internet trong học tập (William Horton). - E-learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông (Compare Infobase Inc).
- E-learning nghĩa là việc học tập hay đào tạo được chuẩn bị, truyền tải hoặc quản lý sử dụng nhiều công cụ của công nghệ thông tin, truyền thông khác nhau và được thực hiện ở mức cục bộ hay toàn cục (MASIE Center). - Việc học tập được truyền tải hoặc hỗ trợ qua công nghệ điện tử. Việc truyền tải qua nhiều kĩ thuật khác nhau như Internet, TV, video tape, các hệ thống giảng dạy thông minh, và việc đào tạo dựa trên máy tính (CBT) (Sun Microsystems, Inc). - Việc truyền tải các hoạt động, quá trình, và sự kiện đào tạo và học tập thông qua các phương tiện điện tử như Internet, intranet, extranet, CD-ROM, video tape, DVD, TV, các thiết 9 bị cá nhân.
- "Việc sử dụng công nghệ để tạo ra, đưa các dữ liệu có giá trị, thông tin, học tập và kiến thức với mục đích nâng cao hoạt động của tổ chức và phát triển khả năng cá nhân". Việc triển khai áp dụng mô hình đào tạo E-learning khá đa dạng, đơn giản nhất là hình thức cung cấp các bài giảng điện tử trên đĩa CD-ROM cho người học tự học, phức tạp hơn là những lớp học được tổ chức trên mạng Internet với sự quản lý một cách có hệ thống. Nhìn chung, hệ thống E-learning thường bao gồm nhiều thành phần chức năng được tích hợp trên môi trường mạng Internet, mỗi thành phần đều được tách riêng biệt và cung cấp các dịch vụ khác nhau, tuy nhiên tất cả các thành phần đó đều được tập trung trong một hệ thống thống nhất để cung cấp dịch vụ đào tạo cho người sử dụng. Về bản chất thì đó vẫn là quá trình truyền tải kiến thức từ giảng viên đến người học dưới sự giám sát của hệ thống quản lý, do đó nó cần phải tuân thủ các tiến trình cơ bản trong quá trình đào tạo và triển khai hệ thống.
E-learning luôn được hiểu gắn với quá trình Học hơn là với quá trình dạy - học. Lý do đơn giản là theo thời gian người ta đã thay đổi từng bước cách nhìn trong mối quan hệ giữa Dạy và Học: Lấy người Thầy làm trung tâm (Dạy) → Tạo sự bình đẳng giữa Thầy và Trò (Dạy - Học) → Lấy học Trò làm trung tâm (Học). Nhìn chung, E-learning ngày nay có thể coi là một hệ thống đào tạo sử dụng các công nghệ đa phương tiện dựa trên nền tảng Internet. Người học sẽ học bằng máy tính, thông qua trang Web của một lớp học ảo.