Download Giáo trình Dược liệu học (Dược sĩ CĐ) - PGS.TS Trần Công Luận

Giáo trình Dược liệu học dược sĩ cao đẳng - phần 1 (pdf) biên soạn theo chương trình đào tạo chuẩn, phù hợp sinh viên ngành y tế hiện nay

Trường đại học

Trường Đại học Tây Đô

Chuyên ngành

Dược liệu học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình

2016

80
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Giáo trình Dược liệu học Dược sĩ Cao đẳng

Giáo trình Dược liệu học được biên soạn bởi Trường Đại học Tây Đô dưới sự chủ biên của PGS. Trần Công Luận nhằm cung cấp kiến thức chuyên sâu cho sinh viên dược sĩ cao đẳng. Giáo trình này được xây dựng trên cơ sở chương trình khung đào tạo được phê duyệt bởi Bộ Giáo dục & Đào tạo và Bộ Y tế, nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo nhân lực y tế chất lượng cao. Nội dung giáo trình tập hợp kiến thức cơ bản, hệ thống và cập nhật các kiến thức y dược học hiện đại, kết hợp với thực tiễn Việt Nam. Mỗi chương đều được thiết kế với mục tiêu học tập rõ ràng, câu hỏi lượng giá và bài tập thực hành để sinh viên có thể tự kiểm tra và nắm vững kiến thức.

1.1. Thông tin chung về giáo trình

Giáo trình Dược liệu học dành cho dược sĩ cao đẳng được biên soạn từ năm 2016 bởi đội ngũ giảng viên giàu kinh nghiệm tại Khoa Dược–Điều dưỡng, Trường Đại học Tây Đô. Giáo trình gồm 45 tiết lý thuyết và 60 tiết thực hành, được phân thành 12 chương chi tiết. Mục đích chính là cung cấp kiến thức toàn diện về thu hái, chế biến, bảo quản dược liệu và phương pháp đánh giá chất lượng dược liệu.

1.2. Mục tiêu và ý nghĩa của giáo trình

Mục tiêu giáo trình hướng tới việc giúp sinh viên hiểu rõ vai trò dược liệu trong bảo vệ sức khỏe cộng đồng, nhận diện các nhóm chất chính trong dược liệu như carbohydrat, glycosid, saponin, flavonoid, alcaloid, tinh dầu và nhiều nhóm khác. Sinh viên sẽ nắm vững các phương pháp định tính và định lượng các hợp chất tự nhiên, từ đó có khả năng kiểm nghiệm và đảm bảo chất lượng dược liệu trong thực tế.

II. Cấu trúc nội dung chính của Giáo trình Dược liệu học

Giáo trình được chia thành 12 chương lý thuyết và phần thực hành tương ứng. Nội dung bắt đầu từ các khái niệm đại cương về dược liệu bao gồm vai trò, yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng và phương pháp thu hái, chế biến, bảo quản. Tiếp theo là các chương chuyên đề về các nhóm hợp chất tự nhiên có trong dược liệu, mỗi chương cung cấp định nghĩa, cấu trúc cơ bản, tính chất chung, phương pháp định tính chung và tác dụng của từng nhóm chất. Giáo trình cũng liệt kê các dược liệu thiết yếu theo danh sách của Bộ Y tế, giúp sinh viên nhận diện bộ phận dùng, thành phần hóa học và tác dụng chính.

2.1. Nội dung lý thuyết 12 chương

Giáo trình bao gồm Chương 1: Đại cương về dược liệu (3 tiết), Chương 2-5 về các dược liệu chứa carbohydrat, glycosid tim, saponin, anthranoid; Chương 6-8 về flavonoid, coumarin, tannin; Chương 9-12 về alcaloid, tinh dầu, chất nhựa, chất béo. Mỗi chương được phân bổ tiết học hợp lý theo mức độ quan trọng và độ phức tạp của nội dung chuyên môn.

2.2. Phần thực hành và kiểm nghiệm

Phần thực hành được chia thành 12 mô-đun tương ứng với lý thuyết, mỗi mô-đun 5 tiết. Sinh viên sẽ thực hiện nhận thức dược liệu (xác định đặc điểm hình thái, mùi vị) và kiểm nghiệm chất lượng bằng các phương pháp hóa học để phát hiện các nhóm chất chính trong dược liệu, phát triển kỹ năng thực tế trong công tác dược liệu.

III. Các nhóm chất thiên nhiên chính được nghiên cứu

Giáo trình Dược liệu học tập trung vào việc nghiên cứu các nhóm hợp chất tự nhiên thường gặp trong dược liệu Việt Nam. Các nhóm chất chính bao gồm carbohydrat (đường đơn, đường đa), glycosid trợ tim (có tác dụng tăng cương lực tim), saponin (có tính chất tạo bọt), anthranoid (có tác dụng nhuận tràng), flavonoid (chất chống oxy hóa mạnh), coumarin (kháng khuẩn và chống viêm), tannin (chất tannin có tác dụng co máu), alcaloid (các chất có cấu trúc nitơ), tinh dầu (dễ bay hơi, thơm), chất nhựachất béo. Mỗi nhóm chất có đặc điểm hóa học riêng, tác dụng dược lý khác nhau và phương pháp định tính, định lượng cụ thể.

3.1. Nhóm chất glycosid và carbohydrat

Carbohydratglycosid là những nhóm chất quan trọng trong dược liệu. Carbohydrat cung cấp năng lượng, trong khi glycosid trợ tim có khả năng tăng cường hoạt động của tim, được sử dụng trong điều trị suy tim. Phương pháp định tính glycosid tim sử dụng các test đặc hiệu để xác định sự hiện diện của nhóm chất này.

3.2. Nhóm chất saponin flavonoid và alcaloid

Saponin có tính chất kỹ lưỡng, flavonoid là chất chống oxy hóa mạnh và alcaloid có các hoạt tính dược lý đa dạng. Các nhóm chất này được phát hiện bằng các phương pháp sắc ký layer chromatography (TLC) và các test hóa học đặc hiệu để xác định nhóm chức năng và định lượng chính xác.

IV. Phương pháp học tập và ứng dụng giáo trình Dược liệu học

Để học tập hiệu quả từ giáo trình Dược liệu học, sinh viên dược sĩ cao đẳng cần kết hợp giữa lý thuyết và thực hành. Giáo trình được thiết kế với mục tiêu sinh viên tự kiểm tra kiến thức thông qua câu hỏi lượng giá ở cuối mỗi chương. Sinh viên nên tham khảo thêm các tài liệu bổ sung như "Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam" của GS. Đỗ Tất Lợi, "Từ điển cây thuốc Việt Nam" của PGS. Võ Văn Chi. Phần thực hành là rất quan trọng, giúp sinh viên phát triển kỹ năng nhận thức dược liệu thực tế và thực hiện kiểm nghiệm chất lượng dược liệu bằng các phương pháp khoa học. Việc kết hợp lý thuyết-thực hành sẽ giúp sinh viên chuẩn bị tốt cho công việc chuyên môn trong lĩnh vực dược liệu.

4.1. Phương pháp học lý thuyết hiệu quả

Sinh viên nên nghiên cứu chi tiết từng chương lý thuyết, tập trung vào định nghĩa, cấu trúc cơ bản của các nhóm chất. Cần hiểu rõ phương pháp định tính chung cho mỗi nhóm chất và tác dụng dược lý cơ bản. Việc trả lời câu hỏi lượng giá sau mỗi chương giúp sinh viên kiểm tra mức độ hiểu bài và chuẩn bị cho bài kiểm tra.

4.2. Ứng dụng trong thực hành và công tác chuyên môn

Phần thực hành là cơ hội để sinh viên áp dụng kiến thức vào thực tế, học cách nhận thức dược liệu từ mẫu thực tế và thực hiện kiểm nghiệm chất lượng bằng các kỹ thuật hóa học. Những kỹ năng này rất cần thiết để sinh viên sau khi tốt nghiệp có thể làm việc hiệu quả tại các bộ phận dược, phòng kiểm nghiệm dược liệu.

22/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 ĐẠI CƯƠNG VỀ DƯỢC LIỆU MỤC TIÊU HỌC TẬP Sau khi học xong bài này sinh viên phải trình bày được: 1. Định nghĩa môn học. Tầm quan trọng của dược liệu trong ngành dược. Thu hái, chế biến, bảo quản dược liệu.

Các phương pháp đánh giá dược liệu. Các phương pháp chiết xuất dược liệu NỘI DUNG I. ĐỊNH NGHĨA MÔN HỌC Dược liệu học là khoa học về các nguyên liệu làm thuốc có nguồn gốc sinh học. Đây là môn học nghiên cứu về sinh học và hóa học những nguyên liệu dùng làm thuốc có nguồn gốc sinh vật mà trong đó các cây thuốc là đối tượng chính.

Dược liệu có thể là tất cả các bộ phận của cây hoặc con thuốc hoặc chỉ là một hay vài bộ phận của chúng. Dược liệu học ngày ngay tập trung vào nghiên cứu 4 lĩnh vực chính: - Tạo nguồn nguyên liệu làm thuốc, - Kiểm nghiệm và tiêu chuẩn hóa dược liệu, - Chiết xuất dược liệu, - Nghiên cứu thuốc mới từ dược liệu. TẦM QUAN TRỌNG CỦA DƯỢC LIỆU TRONG NGÀNH DƯỢC Thuốc sử dụng cho con người thuộc hai nguồn gốc: tự nhiên và tổng hợp. Nhiều nước tuy đã phát triển có nền khoa học hiện đại và dùng rất nhiều thuốc tổng hợp nhưng lại không thể bỏ qua dược liệu, các thuốc có nguồn gốc từ dược liệu vẫn chiếm từ 20-30%.

Vì nhiều thuốc tổng hợp dễ gây ra các tác dụng phụ mà nhiều tác dụng phụ lại nguy hiểm đối với sức khỏe con người, nên nhiều người thích dùng các cây thuốc để chữa bệnh. Mặt khác, nhiều thuốc có thể tổng hợp được nhưng giá thành lại cao nên vẫn phải chiết xuất từ dược liệu. Trong y học hiện đại dùng nhiều thuốc chiết xuất từ thực vật như strychnin từ hạt Mã tiền, morphin từ nhựa của quả Anh túc, berberin từ cây Vàng đắng, artemisinin từ cây Thanh hoa hoa vàng. Và nhiều dược liệu lại là nguồn cung cấp nguyên liệu không thể thiếu được cho nhiều thuốc tổng hợp.

13 Theo thống kê, trong năm 2012, doanh thu sản xuất thuốc từ dược liệu tại Việt Nam đạt 3. Trong số 20 loại dược liệu có nhu cầu dùng cho sản xuất thuốc lớn nhất năm 2011, Artiso đứng đầu danh sách với số lượng tiêu thụ lên tới 2000 tấn/năm, tiếp theo là Đinh lăng với hơn 900 tấn/năm…Như vậy, có thể nói dược liệu chính là nguồn nguyên liệu của nền công nghiệp tân dược trong tương lai, chứ không phải là nguồn nguyên liệu hóa dược mà chúng ta đang mất nhiều thời gian và công sức để theo đuổi trong nhiều năm qua. Việt Nam có một hệ sinh thái phong phú và đa dạng, một tiềm năng lớn về tài nguyên cây thuốc nói riêng và tài nguyên dược liệu (thực vật, động vật, khoáng vật) nói chung. Điều này thể hiện ở sự đa dạng về chủng loại cây thuốc (trong số hơn 12.000 loài thực vật Việt Nam thì có gần 4.000 loài cho công dụng làm thuốc), vùng phân bố rộng khắp cả nước, có nhiều loài dược liệu được xếp vào loài quý và hiếm trên thế giới, như: Sâm ngọc linh, Sâm vũ diệp, Tam thất hoang, Bách hợp, Thông đỏ, Vàng đắng, Hoàng liên ô rô, Hoàng liên gai, Thanh thiên quỳ, Chùm ngây… Tiềm năng to lớn là vậy, song công cuộc bảo tồn và phát triển dược liệu ở nước ta cũng đang gặp phải một số hạn chế, khó khăn, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến quy hoạch phát triển dược liệu, công tác bảo tồn và phát triển nguồn gen dược liệu, việc tiêu chuẩn hóa dược liệu, cũng như việc hiện đại hóa sản xuất thuốc từ dược liệu.

Có thể kể đến một số ví dụ điển hình như tình trạng nuôi trồng và khai thác dược liệu ở nước ta hiện nay còn tự phát, quy mô nhỏ dẫn đến sản lượng dược liệu không ổn định, giá cả biến động. Việc khai thác dược liệu quá mức mà không đi đôi với việc tái tạo, bảo tồn dược liệu đã dẫn đến số lượng loài cây thuốc có khả năng khai thác tự nhiên còn rất ít (trên cả nước hiện chỉ còn khoảng 206 loài cây thuốc có giá trị có thể khai thác tự nhiên), nhiều loài cây thuốc quý hiếm trong nước đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt; Dược liệu không được sản xuất theo quy trình, quy hoạch cụ thể; Việc áp dụng thành tựu của khoa học, công nghệ vào việc hiện đại hoá sản xuất thuốc từ dược liệu chưa được quan tâm đúng mức. Vì vậy, cần có kế hoạch nuôi trồng, di thực, bảo vệ, khai thác hợp lý các dược liệu thiên nhiên và động vật dùng làm thuốc, vừa đảm bảo cân bằng sinh thái, vừa tăng kim ngạch xuất khẩu các vị thuốc quý hiếm để nhập khẩu thuốc men, thiết bị y tế cần thiết, đồng thời tăng cường đào tạo cán bộ y tế để thừa kế và phát triển nền y học cổ truyền dân tộc. ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DƯỢC LIỆU Việt Nam cần quy hoạch nhiều vùng trồng dược liệu quy mô lớn trên cơ sở khai thác các vùng có lợi thế về điều kiện tự nhiên, thích hợp với sinh trưởng và phát triển của cây thuốc; Phù hợp với nguồn nhân lực có khả năng tiếp thu kỹ thuật mới ứng dụng vào sản xuất dược liệu; Dựa vào lợi thế các vùng truyền thống của các cộng đồng miền núi của Việt Nam và các nghiên cứu của các nhà khoa học.

Bên cạnh đó cần đẩy mạnh công tác bảo tồn và phát triển nguồn gen dược liệu. Để đảm bảo nguồn dược liệu chất lượng cao, cần đẩy mạnh triển khai thực hiện GACP (thực hành tốt trồng cây thuốc (GAP) và thực hành tốt thu hái cây thuốc hoang dã (GCP). 14 Ngoài ra, cần xây dựng nhiều các Hồ sơ về dược liệu. Hiện Bộ Y tế đang triển khai xây dựng Danh mục 40 dược liệu có tiềm năng khai thác và phát triển thị trường để làm cơ sở trình Thủ tướng Chính phủ ban hành các chính sách hỗ trợ, đầu tư, khuyến khích phát triển dược liệu trong giai đoạn từ nay đến năm 2030.

Với việc thực hiện tốt, đồng bộ các vấn đề nêu trên, chắc chắn chúng ta sẽ có nguồn dược liệu chất lượng tốt, góp phần tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao, đảm bảo an toàn, hiệu quả cho người bệnh, hướng tới đưa dược liệu trở thành thế mạnh của ngành dược Việt Nam. Điều này cũng được thể hiện rất rõ trong Chiến lược quốc gia phát triển ngành Dược Việt Nam giai đoạn đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 (được ban hành theo Quyết định số 68/QĐ-TTg ngày 10/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ): phát huy thế mạnh, tiềm năng của Việt Nam để phát triển sản xuất thuốc từ dược liệu, trong đó mục tiêu cụ thể đến năm 2020 là phấn đấu sản xuất được 20% nhu cầu nguyên liệu cho sản xuất thuốc trong nước, thuốc sản xuất trong nước chiếm 80% tổng giá trị thuốc tiêu thụ trong năm, trong đó thuốc từ dược liệu chiếm 30%. THU HÁI, CHẾ BIẾN VÀ BẢO QUẢN DƯỢC LIỆU 1. Thu hái dược liệu Chất lượng một dược liệu tốt hay xấu chủ yếu là do hàm lượng hoạt chất chứa trong dược liệu nhiều hay ít.

Hoạt chất của dược liệu thay đổi bởi nhiều yếu tố: di truyền, điều kiện địa lý khí hậu, trồng trọt, thu hái, phơi sấy, bảo quản. Nếu thu hái đúng thì hàm lượng hoạt chất mong muốn có trong dược liệu sẽ đạt được tối đa. Cũng cần biết rằng mỗi dược liệu có thể có hoạt chất khác nhau, hàm lượng của mỗi hoạt chất có thể thay đổi tùy theo mùa, tùy theo chu kỳ phát triển của cây, thổ nhưỡng, khí hậu, đất đai, độ cao. Nếu thu hoạch đúng thời gian dược liệu thu được sẽ có hoạt chất tối đa.

Ví dụ: - Bạc hà có hàm lượng tinh dầu cũng như menthol trong tinh dầu đạt tốt đa lúc cây bắt đầu ra hoa. Tinh dầu ở cây còn non chủ yếu là menthol. - Canh ki na có hàm lượng alcaloid trong vỏ cây tăng nhanh theo sự phát triển của cây và đạt tối đa vào năm thứ 7. - Hoa hòe hái lúc còn nụ thì hàm lượng rutin cao, khi hoa nở hàm lượng rutin thấp.

- Thành phần hoạt chất cũng có thể thay đổi theo thời gian, ví dụ cây Duboisia myoporoides ở Queensland khi thu hoạch vào tháng 10 thì chứa 3 % hyoscyamin nhưng khi thu hoạch vào tháng 4 thì chứa scopolamin với hàm lượng như trên. Nhìn chung, nên thu hái dược liệu lúc trời nắng ráo giúp cho việc phơi sấy và bảo quản dược liệu. Các cây có tinh dầu nên thu hái vào buổi sớm trước lúc mặt trời mọc. Sau đây là nguyên tắc chung định thời kỳ thu hoạch cho từng bộ phận của cây: + Rễ và thân rễ nên thu hoạch vào cuối thời kỳ sinh dưỡng, thường là vào thời kỳ thu đông.

Tuy nhiên có trường hợp đặc biệt như rễ Bồ công anh cần hái vào giữa mùa hè vì khi ấy chứa nhiều hoạt chất. Có thể đào lúc ẩm ướt vì sau đó vẫn phải rửa sạch đất cát trước khi phơi sấy hoặc chế biến. 15 Đối với cây sống nhiều năm, người ta thường thu hái vào những năm sau để rễ, củ có khối lượng lớn và hàm lượng hoạt chất cao. Nhưng cũng không nên quá lâu vì rễ hay củ sẽ hóa gỗ hoặc phải cân nhắc giữa việc tăng hàm lượng hoạt chất và thời gian bị mất.

Hàm lượng hoạt chất giữa các phần của củ có thể không giống nhau. Trong Đại hoàng và Bạch chỉ hàm lượng hoạt chất tăng dần từ phần gần mặt đất xuống phần chót của củ. + Vỏ cây (vỏ thân, cành và vỏ rễ) thường thu hoạch vào mùa xuân là thời kỳ nhựa cây hoạt động mạnh hay cuối mùa thu, đầu mùa đông khi cây phát triển chậm lại. Vỏ cây quá già hoặc quá non thường có chất lượng thấp hơn.

+ Lá và ngọn cây có hoa phải thu hái vào thời kỳ quang tổng hợp mạnh nhất thường là thời kỳ cây bắt đầu ra hoa, không nên thu hái khi quả và hạt đã chín. Tuy nhiên với lá Trà, người ta hái búp và lá non, còn với là Bạch đàn người ta thường hái những lá già. Với những cây thảo, người ta có thể thu hái toàn cây cả rễ hay loại bỏ rễ. + Hoa phải hái lúc trời nắng ráo, khi còn là nụ hay trước hoặc đúng vào thời kỳ hoa nở.

Hái trước khi hoa nở như nụ Hòe, đinh hương, Kim ngân. Hái khi hoa nở như Hồng hoa, Cà độc dược. + Quả được thu hái vào những thời gian khác nhau, tùy theo dược liệu nhưng thường là khi quả đã già hoặc chín. Quả thu hái ngay trước khi chín như Mơ, Hồ tiêu, Chỉ xác hay khi quả chín như quả Dâu, Nhãn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ