Giáo Trình Dược Cổ Truyền 2022 Tại Đại Học Y Dược Huế

Chuyên khảo phân tích Giao trinh dct 2022, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo., phục vụ nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Trường đại học

Đại Học Y Dược Huế

Chuyên ngành

Dược Cổ Truyền

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo Trình

2021

168
5
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

1. ĐẠI CƯƠNG Y HỌC CỔ TRUYỀN

1.1. Mục tiêu

1.2. GIỚI THIỆU

1.3. Y HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM THỜI THƯỢNG CỔ

1.4. Y HỌC CỔ TRUYỀN TỪ NĂM 179 (trước CN) ĐẾN NĂM 938 (sau CN)

1.5. Y HỌC CỔ TRUYỀN TỪ NĂM 938 ĐẾN NĂM 1884

1.5.1. Y học cổ truyền dưới các triều Ngô, Đinh, Lê, Lý (938-1224)

1.5.2. Y học cổ truyền dưới triều nhà Trần (1225-1399)

1.5.3. Y học cổ truyền thời nhà Hồ và thời thuộc Minh (1400 – 1427)

1.5.4. Y học cổ truyền dưới triều Lê (1428- 1788)

1.5.5. Y học cổ truyền dưới triều Tây sơn (1789- 1802)

1.5.6. Y học cổ truyền dưới triều Nguyễn (1802 – 1905)

1.6. Y HỌC CỔ TRUYỀN DƯỚI THỜI PHÁP THUỘC (1884 – 1945)

1.7. Y HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG 8 NĂM 1945 ĐẾN NAY

2. ĐÔI NÉT VỀ DƯỢC HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

2.1. Một số khái niệm và cách phân loại

2.1.1. Một số khái niệm liên quan đến thuốc cổ truyền

2.1.2. Một số cách phân loại thuốc cổ truyền

2.1.2.1. Phân loại theo học thuyết Âm Dương
2.1.2.2. Phân loại theo học thuyết Ngũ Hành
2.1.2.3. Phân loại theo Bát pháp
2.1.2.4. Phân loại theo các nhóm hợp chất thiên nhiên có hoạt tính sinh học
2.1.2.5. Phân loại theo dược lý trị liệu
2.1.2.6. Phân loại theo tác dụng và độc tính

Tóm tắt

I. Tổng quan về Giáo Trình Dược Cổ Truyền 2022 Đại Học Y Dược Huế

Giáo trình Dược Cổ Truyền 2022 của Đại Học Y Dược Huế là tài liệu quan trọng cho sinh viên ngành dược. Tài liệu này không chỉ cung cấp kiến thức lý thuyết mà còn hướng dẫn thực hành trong lĩnh vực dược cổ truyền. Nội dung giáo trình được biên soạn dựa trên những nghiên cứu mới nhất và kinh nghiệm thực tiễn của các giảng viên. Điều này giúp sinh viên nắm vững kiến thức và kỹ năng cần thiết để áp dụng trong thực tế.

1.1. Nội dung chính của Giáo Trình Dược Cổ Truyền 2022

Giáo trình bao gồm các chương trình học về dược liệu, phương pháp bào chế thuốc, và các bài thuốc cổ truyền. Mỗi chương được thiết kế để giúp sinh viên hiểu rõ hơn về các loại dược liệu và cách sử dụng chúng trong điều trị bệnh.

1.2. Đối tượng sử dụng Giáo Trình Dược Cổ Truyền

Giáo trình này chủ yếu dành cho sinh viên ngành dược, các giảng viên và những người quan tâm đến y học cổ truyền. Nó cũng có thể được sử dụng như tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu về dược cổ truyền.

II. Thách thức trong việc áp dụng Dược Cổ Truyền hiện nay

Mặc dù Dược Cổ Truyền có nhiều lợi ích, nhưng việc áp dụng nó trong thực tiễn vẫn gặp nhiều thách thức. Một trong những vấn đề lớn là sự thiếu hụt thông tin và tài liệu nghiên cứu đáng tin cậy. Ngoài ra, sự phân biệt giữa y học hiện đại và y học cổ truyền cũng gây khó khăn trong việc tích hợp hai hệ thống này.

2.1. Thiếu hụt tài liệu nghiên cứu về Dược Cổ Truyền

Nhiều tài liệu về Dược Cổ Truyền chưa được cập nhật hoặc không có sẵn, dẫn đến việc sinh viên và các nhà nghiên cứu gặp khó khăn trong việc tìm kiếm thông tin chính xác.

2.2. Sự phân biệt giữa y học hiện đại và cổ truyền

Sự khác biệt trong phương pháp điều trị và quan điểm về sức khỏe giữa y học hiện đại và cổ truyền có thể tạo ra rào cản trong việc áp dụng Dược Cổ Truyền trong các cơ sở y tế.

III. Phương pháp giảng dạy Dược Cổ Truyền hiệu quả

Để nâng cao hiệu quả giảng dạy Dược Cổ Truyền, các phương pháp giảng dạy hiện đại cần được áp dụng. Việc kết hợp lý thuyết và thực hành sẽ giúp sinh viên nắm vững kiến thức và kỹ năng cần thiết. Ngoài ra, việc sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy cũng là một yếu tố quan trọng.

3.1. Kết hợp lý thuyết và thực hành trong giảng dạy

Việc tổ chức các buổi thực hành tại phòng thí nghiệm và các buổi thực địa sẽ giúp sinh viên có cái nhìn thực tế hơn về Dược Cổ Truyền.

3.2. Sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy

Công nghệ thông tin có thể được sử dụng để tạo ra các bài giảng trực tuyến, giúp sinh viên dễ dàng tiếp cận tài liệu học tập và nâng cao khả năng tự học.

IV. Ứng dụng thực tiễn của Dược Cổ Truyền trong điều trị bệnh

Dược Cổ Truyền đã được ứng dụng rộng rãi trong điều trị nhiều loại bệnh. Các bài thuốc cổ truyền không chỉ giúp điều trị triệu chứng mà còn hỗ trợ phục hồi sức khỏe toàn diện. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc kết hợp Dược Cổ Truyền với y học hiện đại có thể mang lại hiệu quả cao hơn trong điều trị.

4.1. Các bài thuốc cổ truyền phổ biến trong điều trị

Nhiều bài thuốc cổ truyền như thuốc từ gừng, tỏi, và các loại thảo dược khác đã được sử dụng để điều trị các bệnh như cảm cúm, đau nhức và tiêu hóa.

4.2. Nghiên cứu về hiệu quả của Dược Cổ Truyền

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng Dược Cổ Truyền có thể hỗ trợ điều trị hiệu quả các bệnh mãn tính và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

V. Kết luận về tương lai của Dược Cổ Truyền tại Việt Nam

Dược Cổ Truyền có tiềm năng lớn trong việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng tại Việt Nam. Với sự quan tâm của chính phủ và các tổ chức y tế, Dược Cổ Truyền sẽ ngày càng được phát triển và ứng dụng rộng rãi hơn. Việc kết hợp giữa Dược Cổ Truyền và y học hiện đại sẽ tạo ra một nền y tế toàn diện và hiệu quả hơn.

5.1. Tầm quan trọng của Dược Cổ Truyền trong y tế hiện đại

Dược Cổ Truyền không chỉ là một phần của di sản văn hóa mà còn là một nguồn tài nguyên quý giá cho y tế hiện đại.

5.2. Hướng phát triển Dược Cổ Truyền trong tương lai

Cần có các chính sách hỗ trợ nghiên cứu và phát triển Dược Cổ Truyền, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả điều trị cho người dân.

27/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu là nhà Ngô, tiếp theo đó là nhà Đinh, Lê, Lý. Song dưới các triều đại này chưa từng thấy tài liệu ghi chép về tổ chức y tế. Đến nhà Lý nước ta có nhiều thầy thuốc chuyên nghiệp. Ở triều đình đã có Ty thái y.

Trong đó có ngự y chuyên chăm sóc sức khỏe cho vua. Năm 938 vua Lý Thần Tông phát bệnh điên cuồng, mình mọc lông dài. Miệng gào thét đã được Minh Không thiền sư chữa khỏi băng cách tắm nước bồ hòn. Y học cổ truyền dưới triều nhà Trần (1225-1399) Trong thời kỳ này nền y học cổ truyền có một số đặc điểm sau: - Có viện thái y học với chức năng chăm lo sức khỏe cho vua quan trong triều đình, đồng thời có nhiệm vụ quản lý y tế trong cả nước.

- Từ năm 1261 nhà Trần đã mở khóa thi để tuyển lương y vào làm việc ở viện Thái y. Viện Thái y đã chỉ đạo việc đào tạo thầy thuốc và có kế hoạch thu trữ cấp phát dược liệu, phục vụ chữa bệnh cho vua quan và quân đội. Viện Thái y đã thường xuyên tổ chức đi hái thuốc mọc hoang ở núi An Tử, Đông Triều. Lúc này Phạm Ngũ Lão , phụ trách trồng thuốc ở Phả Lại (vườn thuốc Vạn An và Dược Sơn xã Hưng Đạo, Chí Linh ngày nay) để tự túc thuốc men.

Như vậy việc trồng thuốc và thu hái thuốc mọc hoang; ông cha ta cũng đã lãm từ sớm. Cũng từ đó xuất hiện ý thức sâu đậm trồng cây thuốc, có khi cả làng như Đại Yên ( Ba Đình – Hà Nội), Nghĩa Trai(Văn Lâm – Hưng Yên) mà ngày nay vẫn còn truyền thống. Song song với việc dùng thuốc; việc chữa bệnh bằng châm cứu cũng được tin dùng hơn trước. - Năm 1362, vua Trần Dụ Tông đã cấp phát tiền gạo và thuốc viên Hồng ngọc sương hoàn để chống dịch cho dân ở hạt Tam Đới ( Phú Thọ) và phủ Thiên Trường (Nam Định).

Dưới thời nhà Trần xuát hiện một số thầy thuốc tiêu biểu: - Phạm Công Bân (Cẩm Bình – Hải Dương) giữ chức Thái y lệnh, từ 1278 – 1314 ngoài việc chăm sóc sức khỏe cho dân, ông còn bỏ tiền riêng mua sắm thuốc men dựng nhà nuôi dưỡng bệnh nhân nghèo bị tàn tật, hoặc trẻ em mồ côi cơ nhỡ. 3 - Tuệ Tĩnh còn gọi là Nguyễn Bá Tĩnh một tiến sĩ hoàng giáp, một nhà sư và một lương y nổi tiếng đã đề xuất thuốc Nam Việt chữa người Nam Việt ông đã biên soạn cuốn Nam dược thần hiệu với 499 vị thuốc và các phương thuốc nam chữa 184 loại bệnh. Quyển sách của ông đã được Hòa thượng bản lai biên tập, bổ sung và in khắc lại năm 1761. Quyển Nam dược chính bản (có tựa của chúa Trịnh 1717) gồm hai quyển Nam dược quốc ngữ phú gồm 590 vị thuốc, Trực giải chỉ nam dược tính phú gồm 220 vị.

Sau này đổi tên là Hồng nghĩa giác tư y thư. - Qua một số tác phẩm của Tuệ Tĩnh ta thấy nổi bật lên đạo đức và đường hướng y học của ông. Trong thời kỳ này nhiều vị thuốc được phát hiện như Hoàng nàn, Hoàng đằng, Hoàng lực, Độc lực, Tân lang, Lá đơn đỏ, Vỏ lựu. Đồng thời Tuệ Tĩnh đã bước đầu chia bệnh ra 10 khoa.

Y học cổ truyền thời nhà Hồ và thời thuộc Minh (1400 – 1427) Trong thời kỳ này, triều đình có chủ trương chữa bệnh rộng rãi cho dân. Lập Quảng tế thự, tổ chức các cơ sở chữa bệnh ở địa phương. Trong thời kỳ này có Nguyễn Đại Năng (Hải Dương) giữ chức tá nhị ở viện Thái y, ông đã biên soạn châm cứu tiệp hiệu diễn ca, vận dụng 120 huyệt để chữa nhiều bệnh hiểm nghèo (sốt rét, động kinh) ngoài ra còn có Vũ Toàn Trai (Hải Hưng), Lý Công Tuấn (Tiên Sơn, Bắc Ninh) đều là những người biên soạn các tác phẩm châm cứu giá trị. Y học cổ truyền dưới triều Lê (1428- 1788) Dưới triều Lê, Lê Nhân Tông chú trọng phát triển nền y học cổ truyền nước ta.

Lúc này đã có quan hệ trao đổi sản vật để lấy thuốc Bắc của Trung Quốc. Nhà Lê quan tâm đến sức khỏe của nhân dân. Luật Hồng Đức đã đưa ra quy chế nghề y, trừng phạt những thuốc vụ lợi. Cố tình chữa bệnh dây dưa hoặc chữa khoán, có quy chế vệ sinh xã hội, nghiêm trị những người chế và bán thuốc độc.

Cuốn “Bảo sinh diên thọ toàn yếu” hướng dẫn giữ vệ sinh, luyện tập vận động thân thể để tăng tuổi thọ. Về tổ chức y tế ở triều đình có viện Thái y đứng đầu là Đại sứ, giúp việc có tránh phó ngự y chữa bệnh cho vua. Chánh phó lương y để chữa bệnh cho hoàng gia và quan lại, ở sáu viện có các phòng thuốc do các Viên tư dược và Trưởng dược phụ trách giữ kho và phân phối cấp phát. Ở Viện thái y còn có khoa huấn luyện y học.

Ở các tỉnh có Tế sinh đường có các kháng chẩn để khám bệnh và chức sứ trông coi kho thuốc và cấp phát thuốc. Các chánh phó lương y trông coi sức khỏe cho các tướng sĩ trong quân đội. 4 Trong thời kỳ này có các lương y nổi tiếng như: + Nguyễn Trực chuyên chữa về bênh trẻ em bằng xoa bóp, bấm huyệt, đốt bấc; có các phương pháp trị bệnh sỏi, đậu mùa. + Chu Doãn Văn (Thanh Trì) có các y án trị bệnh ngoại cảm và biên soạn 4 thiên lý luận cơ bản rất súc tích.

+ Hoàng Đôn Hòa (Thanh Oai – Hà Tây) đã thành công trong việc dùng thuốc hoàn chế sẵn và dược liệu trồng tại chỗ để chữa bệnh đặc biệt là bệnh sốt rét và thổ tả. Ngoài ra còn hàng loạt các danh y khác như Nguyễn Đạo An, Lê Đức Vong, Đào Công Chính, Tạ Chất Phác, Trần Hải Yến. đã có nhiều công lao đóng góp cho nền y học cổ truyền. Đặc biệt trong thời kỳ này, nổi bật lên như một ngôi sao sáng trong nền y học cổ truyền Việt Nam đó là danh y Lê Hữu Trác (1720-1791) Hải Thượng Lãn Ông (Hưng Yên).

Ông đã để lại một pho kinh nghiệm quý báu, đúc rút qua nhiều thế hệ của các nhà y học cổ truyền trong và ngoài nước (Trung Quốc) với bộ sách khổng lồ Lãn Ông tâm lĩnh sau đổi thành Hải thượng y tông tâm lĩnh 28 tập , 66 quyển để phổ cập đào tạo thầy thuốc, lưu truyền cho hậu thế. Để ghi nhớ công ơn ông, Nghành Y tế Việt Nam đã lấy ngày mất của ông 15-1 (âm lịch) làm ngày truyền thống của những người hoạt động trong lĩnh vực y học cổ truyền Việt Nam. Y học cổ truyền dưới triều Tây sơn (1789- 1802) Kết quả của sự chia cắt đất nước lâu dài ( Trịnh – Nguyễn phân tranh)làm nhân dân vô cùng khốn khổ, bệnh tật phát triển, thái y viện đã tăng cường việc chống dich ở các địa phương. Đã thành lập Nam dược cục; mời các lão y về nghiên cứu thuốc Nam, đứng đầu là lương y Nguyễn Hoành ( Thanh Hóa) ông đã biên soạn 500 vị thuốc cỏ cây ở địa phương và 130 vị về các loại chim, cá, kim, thạch, đất, nước.

Y học cổ truyền dưới triều Nguyễn (1802 – 1905) Nhà Nguyễn dựa vào Pháp lập các Tế sinh đường ở các tỉnh đổi thành Ty lương y. Những người tàn tật nghèo khổ được nuôi dưỡng ở Dưỡng tế sự các tỉnh. Viện thái y có quy định cụ thể các chức vụ như bào chế, kiểm tra, đóng gói, sắc thuốc. 1856 Tự Đức có mở trường dạy thuốc ở Huế.

Nhà Nguyễn có đặt quy chế riêng về nghề y, trừng phạt các thày thuốc chữa sai gây tử vong hoặc cố tình gây nguy hiểm cho người bệnh. Luật Gia Long quy định trừng phạt những vụ chữa bệnh trái phép gây chết người. Y HỌC CỔ TRUYỀN DƯỚI THỜI PHÁP THUỘC (1884 – 1945) 5 Sau khi chiếm được nước ta, người Pháp tổ chức y tế nước ta theo cách tây y. Có các nhà thương ở thành phố, bệnh xá ở tỉnh lỵ, lúc đầu đều cho thầy thuốc nhà binh phụ trách.

Từ 1905, các bệnh viện, bệnh xá do giám đốc y tế của 3 kỳ lãnh đao dưới quyền thanh tra y tế Đông Dương. Các Ty lương y ở Nam triều bị giải tán. Y học cổ truyền không còn nằm trong hệ thống y tế nhà nước. Tuy vậy những người dân nghèo đa phần ở nông thôn và miền núi vẫn phải chữa bệnh bằng y học cổ truyền.

Y học cổ truyền bị thực dân pháp chèn ép, đè nén. Pháp hạn chế số người hành nghề y học cổ truyền, ở Nam bộ cấp thẻ môn bài không quá 500 người hành nghề y học cổ truyền. Mặc dù vậy y học cổ truyền vẫn cố gắng tìm cách hoạt động để giữ gìn vốn quý của cha ông. Ví dụ Hội y học Trung Kỳ thành lập ngày 14/9/1936 đã phát hành 46 số tạp chí y học.

Y HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG 8 NĂM 1945 ĐẾN NAY Sau khi giành được chính quyền, Bác Hồ và Đảng ta đã quan tâm đến nền y học cổ truyền. Trong thư gửi cán bộ y tế ngày 27/2/1955 Bác Hồ viết “Y học phải dựa trên nguyên tắc khoa học, dân tộc, đại chúng. Ông cha ta ngày trước có nhiều kinh nghiệm quý báu về cách chữa bệnh bằng thuốc ta, thuốc Bắc. Để mở rộng phạm vi y học, các cô các chú cũng nên chú trọng nghiên cứu và phối hợp thuốc Đông và thuốc Tây” Những chỉ thị 101 TTg ngày 15/3/1961, 21CP ngày 19/2/1967 và 26CP ngày 19/10/1978 đã quy định “Trên cơ sở khoa học thừa kế và phát huy những kinh nghiệm tốt của đông y và kết hợp với tây y tăng cường khả năng phòng bệnh, chữa bệnh, và tiến tới xây dựng nền y học Việt Nam” Điều 49 chương III, hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam có ghi “Phát triển và hoàn thiện hệ thống bảo vệ sức khỏe nhân dân trên cơ sở kết hợp y học, dược học hiện đại với y học cổ truyền” Ngày 4/11/1955 Bộ Y tế có công văn 9126 YD/PBCB hương dẫn các địa phương khai thác và sử dụng thuốc nam.

Ngày 12/4/1956 Bộ Y tế tổ chức Phòng đông y trong Vụ chữa bệnh chuyên trách nghiên cứu đông y. Theo nghị định số 339 NV/DC ngày 3/6/1957 của Bộ nội vụ, Hội Đông y Việt Nam, sau chuyển thành Hội Y học cổ truyền Việt Nam, nay là Hội Đông y Việt Nam được phép thành lập với mục đích đoàn kết các người làm nghề và nghiên cứu đông y, đông 6 dược và phối hợp với Bộ y tế trong công tác lãnh đạo giới đông y về tư tưởng nghiệp vụ. Vụ đông y được thành lập giúp đỡ Bộ y tế lãnh đạo công tác đông y trong toàn Ngành y tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ