MỞ ĐẦU MĐ 17 - 00 Giới thiệu: Nội dung trọng tâm của bài nhằm cung cấp cho sinh viên các khái niệm cơ bản về dinh dưỡng thức ăn, phân loại và nhận diện của thức ăn, đặc điểm dinh dưỡng cơ bản của động vật thủy sản. Tầm quan trọng của dinh dưỡng thức ăn đối với động vật nuôi. Mục tiêu: - Kiến thức: + Hiểu được về ý nghĩa và tầm quan trọng của thức ăn trong nuôi trồng thủy sản. Đặc điểm, tính chất của từng loại thức ăn.
+ Trình bày được đặc điểm dinh dưỡng cơ bản trong nuôi trồng thủy sản. - Kỹ năng: + Cập nhật được vai trò, tầm quan trọng của thức ăn trong nuôi trồng thủy sản. + Phân biệt được các loại thức ăn. + Nhận diện tính ăn một số loài thủy sản nuôi.
- Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Có định hướng tích cực trong việc sử dụng thức ăn. Khái quát nội dung mô đun Dinh dưỡng thức ăn thủy sản là lĩnh vực còn non trẻ được kế thừa và phát triển trên nền tảng dinh dưỡng học ở người và động vật trên cạn. Lịch sử dinh dưỡng học trên tôm cá chỉ mới được chú ý nghiên cứu từ thập kỉ 40 của thế kỉ trước khi nghề nuôi thủy sản thâm canh ra đời. Việc nghiên cứu dinh dưỡng học trên tôm cá chỉ tập trung vào hơn 120 loài tôm cá kinh tế đã được thuần hóa, thích nghi với điều kiện nuôi nhốt với mật độ cao như cá hồi, cá chép, rô phi, tôm sú, cá chình, cá da trơn,… Việc nghiên cứu đầy đủ, chính xác về nhu cầu dinh dưỡng và thức ăn của đối tượng nuôi là rất cần thiết có tính quyết định đến năng suất nuôi, nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn đồng thời hạn chế dịch bệnh và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Môn học dinh dưỡng thức ăn thủy sản cung cấp cho sinh viên những kiến thức về các thành phần chính có trong các nguyên liệu làm thức ăn viên công nghiệp; sự tiêu hóa và biến dưỡng thức ăn thành các dưỡng chất cho cá hấp thu; những kiến thức về vai trò và nhu cầu dinh dưỡng của các đối tượng thuỷ sản nuôi phổ biến ở tất cả các giai đoạn từ ấu trùng, đến ương giống, nuôi thịt, nuôi vỗ bố mẹ và các vấn đề có liên quan. Cách tính toán khẩu phần khẩu phần thức ăn, phương pháp cho ăn và quản lý thức ăn. Từ đó sinh viên có thể vận dụng những kiến thức từ môn học này phục vụ cho nuôi hoặc chế biến thức ăn thuỷ sản. Thức ăn trong thủy sản 2.
Một số khái niệm 2. Dinh dưỡng là gì? Dinh dưỡng là sự chuyển hoá vật chất của thức ăn thành những yếu tố tạo nên cơ thể thông qua các quá trình sinh lý, hoá học. Quá trình dinh dưỡng phải được thực hiện bên trong cơ thể trải qua 4 giai đoạn: Lấy thức ăn, tiêu hóa hấp thu thức ăn, chuyển hóa và bài tiết. Tiếp nhận thức ăn: tính từ thời điểm cá rượt đuổi, bắt lấy và đưa thức ăn vào đầu ống tiêu hóa, chưa xảy ra quá trình tiêu quá.
Tiêu hóa hấp thu thức ăn Tiêu hóa thức ăn: Sau khi thức ăn được đưa miệng quá trình tiêu hóa diễn ra rất phức tạp xảy ra trong lòng ống tiêu hóa từ miệng đến dạ dạy và ruột, bao gồm cả quá trình tiêu hóa cơ học, hóa học, sinh học. Quá trình này biến đổi các đại phân tử như protein, lipid, glucid,… thành các đơn phân là axit amin, axit béo, đường glucose,… để cơ thể hấp thu. Đánh giá khả năng tiêu hóa của một loại thức ăn người ta dựa vào độ tiêu hóa của thức ăn đó, tức là mức độ tiêu hóa của tôm cá đối với một loại thức ăn cụ thể. Xác định độ tiêu hóa của một loại thức ăn được trình bày ở một chương riêng.
Hấp thu thức ăn: Quá trình hấp thu xảy ra liên tiếp quá trình tiêu hóa. Các dưỡng chất chính sẽ được hấp thu chủ yếu qua hệ tuần hoàn và một số dưỡng chất được hấp thu qua hệ bạch huyết. Biến dưỡng thức ăn: là tập hợp quá trình biến đổi sinh hóa phức tạp của các dưỡng chất trong quá trình tiêu hóa, hấp thu để chuyển hóa thành các chất cần thiết cho trao đổi chất hay tích lũy bên trong cơ thể, đến các sản phẩm bài tiết loại thải ra bên ngoài. Đánh giá hiệu quả sự biến dưỡng thức ăn người ta thường dựa vào chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tích lũy của một số dưỡng chất như hiệu quả tích lũy protein, lipid hay glucid.
Thức ăn là gì? Thức ăn là sinh vật hay vật chất chứa đựng chất dinh dưỡng mà động vật có thể ăn, tiêu hoá và hấp thu được các chất dinh dưỡng đó để duy trì sự sống, xây dựng cấu trúc cơ thể. Mục đích nghiên cứu dinh dưỡng động vật thủy sản là nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn để cho quá trình chuyển hóa vật chất dinh dưỡng từ thức ăn thành vật chất dinh dưỡng của cơ thể động vật nuôi hiệu quả nhất. Việc vận dụng kiến thức dinh dưỡng học vào thực tế sản xuất nuôi trồng thủy sản ngoài yếu tố kỹ thuật chất lượng thức ăn còn chú trọng đến yếu tố kinh tế. Thức ăn là cơ sở để cung cấp chất dinh dưỡng và năng lượng cho quá trình dinh dưỡng.
Ý nghĩa, vai trò thức ăn trong thủy sản Thức ăn là cơ sở cung cấp chất dinh dưỡng cho quá trình trao đổi chất của động vật thuỷ sản. Nếu không có thức ăn không có trao đổi chất, khi đó động vật thuỷ sản sẽ chết. Thức ăn có vai trò quyết định đến năng suất, sản lượng, hiệu quả của nghề nuôi thuỷ sản. Trong điều kiện nuôi cá nói chung thức ăn chiếm tỷ lệ cao trong chi phí (50-80%).
Đây là vấn đề cần được quan tâm và sử dụng hợp lý cho nghề nuôi cá. Sử dụng và chế biến thức ăn cho cá cần kết hợp nhiều ngành nghề khác nhau như cơ khí chế tạo, chăn nuôi, chế biến bột cá, chế biến phụ phẩm nông nghiệp, chế biến thực phẩm, chất bổ sung. Trong cùng điều kiện nuôi (môi trường, đối tượng nuôi, thời gian nuôi, các biện pháp kỹ thuật nuôi được áp dụng…) thì thức ăn có vai trò quyết định đến tốc độ tăng trưởng, năng suất và hiệu quả kinh tế. Ở chừng mực nhất định thì ảnh hưởng của thức ăn và chế độ nuôi dưỡng còn mạnh hơn giống và tổ tiên con vật.
Mối quan hệ giữa thủy sản và dinh dưỡng Một trong những mục đích kĩ thuật của nuôi thuỷ sản là nâng cao sức sản xuất một cách có hiệu quả kinh tế trong một thời gian ngắn. Sức sản xuất liên quan đến tỉ lệ đầu tư vào (đất, nước, lao động, con giống, thức ăn) và sản phẩm thu được (cá, tôm, nhuyễn thể…). Một trong những giới hạn chính để nâng cao sản lượng là chi phí của thức ăn (chiếm 50-80% trong tổng chi phí lưu động). Giảm chi phí thức ăn thường phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng các dưỡng chất của động vật nuôi.
Điều này rất quan trọng trong việc phát triển bền vững trong nghề nuôi thuỷ sản. Hoạt động liên quan đến việc chuẩn bị hệ thống nuôi bao gồm chọn vị trí nuôi thích hợp, xây dựng và thiết kế hệ thống nuôi (ao, bè, hệ thống nuôi nước chảy,…) và chuẩn bị điều kiện cần thiết trước khi thả giống. Hoạt động liên quan đến quản lý và chăm sóc đối tượng nuôi bao gồm mật độ nuôi, kích cỡ, thu hoạch. Hoạt động liên quan đến đầu tư như phân bón, chất lượng nước, chăm sóc và quản lý sức khoẻ đối tượng nuôi.
Thuỷ sản Dinh dưỡng - Chế tạo và dự trữ nguồn nguyên liệu - Chế biến nguồn nguyên liệu Nguyên liệu - Thiết lập công thức thức ăn - Bảo quản sản phẩm Thức ăn Hoà tan - Tập tính ăn thừa Vật nuôi - Tiêu hoá - Nhu cầu dinh dưỡng - Cân bằng dưỡng chất - Chất lượng nước Phân Bài tiết - Sức sản xuất Sản phẩm Hình 1: Mối quan hệ giữa thủy sản và dinh dưỡng 2. Phân loại thức ăn Như vậy, ngày nay thực tế trong nuôi trồng thủy sản trên thế giới có nhiều thức ăn được khai thác và sử dụng rất đa dạng và phong phú phù hợp các mô hình nuôi và đối tượng nuôi ngày càng mở rộng. Nguồn thức ăn này có thể được cung cấp trực tiếp từ trong hệ thống nuôi hay cung cấp từ bên ngoài vào như luân trùng, động thực vật phiêu sinh, vi khuẩn, mùn bã hữu cơ, láp láp, thực vật thượng đẳng, động vật đáy, tôm tép, cá tạp, cua óc, cám gạo, khoai lang, khoai mì, dừa khô, nhuyễn thể, phụ phẩm của các lò giết mỗ gia súc, gia cầm, nhà máy chế biến thủy sản, bột cá, bột đậu nành, bột tôm, bột huyết, thức ăn viên,…Tất cả các nguồn thức ăn này có thể được phân loại một cách tương đối như sau: Thức ăn tự nhiên (Live food, Natural food): các loại rong tảo và các sinh vật phù du động vật là những cơ thể sinh vật sống được nuôi có thể làm thức ăn cho động vật thuỷ sản. Thức ăn tự nhiên thường được sử dụng làm thức ăn cho động vật thủy sản ở giai đoạn đầu tiên khi chúng bắt đầu dinh dưỡng ngoài.
Thức ăn nhân tạo (Commercial food, Pellet food): được gọi là thức ăn khô hay thức ăn viên. Trong thức ăn công nghiệp còn được chia ra: thức ăn viên chìm (rinking food) sử dụng chủ yếu để nuôi giáp xác, thức ăn nổi (floating food) sử dụng nuôi cá. Thường được sử dụng phổ biến đối với các loài cá kinh tế nuôi mật độ cao. Thức ăn tươi sống (Fresh food): các loại động vật tươi làm thức ăn cho cá (tôm tép, cá tạp, artemia, cua, ốc bươu vàng, ốc mượn hồn….Áp dụng cho các loài cá bố mẹ, các loại cá còn mang tính hoang dã hay tính lựa chọn thức ăn cao.
Thức ăn tự chế (Home - made food): thức ăn do người nuôi tự phối chế chủ yếu từ các nguồn nguyên liệu địa phương, qui trình chế biến đơn giản, thức ăn dạng ẩm. Có thể tận dụng hiệu quả các nguồn phế phẩm, giá thành rẻ thích hợp cho các mô hình nuôi thủy sản kết hợp. Thức ăn tự chế (home – made food) Thức ăn tươi sống (fresh food): Thức ăn tự chế (home – made food) Thức ăn tươi sống (fresh food): Thức ăn tự nhiên (Live food, Thức ăn viên (commercial food, natural food) pellet food) Hình 2: Các loại thức ăn sử dụng phổ biến trong thủy sản 3. Đặc điểm dinh dưỡng cơ bản của của động vật thuỷ sản Động vật thuỷ sản bao gồm các loài cá và giáp xác, có những đặc điểm dinh dưỡng rất chuyên biệt và rất khác so với động vật trên cạn.