Chương I. Một số kiến thức cở sở của Tập làm văn và phương pháp dạy học Tập làm văn Nội dung của chương nêu những kiế n thức cơ sở cần vận dụng vào Tập làm văn và dạy Tập làm văn. Tập làm văn là món học có tính chất tốn nên kiến thức cơ sở liên quan đến g hợp nhiều ngành khoa học. Tuy nhiên, phạm vi hạn hẹp, cuốn sách chưa do thể giới thiệu hết các kiến thức cơ SỞ này và cũng chưa thể đi sâu vào từng vấn đẻ.
Chương II. Tập làm văn trong chư ơng trình tiếng Việt tiểu học Chương này phân tích vai trò của phân môn Tập làm văn tro chương trình Tiếng Việt tiểu học và ng mối quan hệ giữa Tập làm văn với phân môn khác trong môn Tiếng Việt các , Chương III. Dạy học Tập làm văn theo chương trình và sách giáo kho Tiếng Việt tiếu học hiện hành. a Phan nay di sau giới thiệu nội dung và phương pháp dạy các bài hội thoại, các bài kể chuyện, miêu tả, các văn bản hành chính,.
theo sách giáo khoa Tiếng Việt. Quan điểm cơ bản là quan điểm thực hành gắn với đặc điểm từng kiểu loại bài (củng là tìm ý nhưng ở văn miêu tả có cách làm riêng khác với văn kể chuyện,. Lần đầu xuất bản, sách không thể trá nh được những hạn chế nhất định. Tác giả rất mong sự góp ý của bạn đọc để cuốn sách ngày càng hoàn thiện hơn trong các lần ìn sau, _ ee De gid Nguyễn Trí Chương | MOT SO KIEN THUC CO SO CUR TAP LAM VAN VA PHUONG PHAP DAY HOC TAP LAM VAN Tập làm văn (TLV) đòi hỏi sự ứng dụng tri thức của nhiều ngành khoa học khác nhau, vận dụng nhiều kĩ năng khác nhau.
Phương pháp dạy TLV cùng vậy. Để có thể dạy học tốt TLV, cần nắm được và vận dụng có sáng tạo nhiều tri thức và kĩ năng. XÁC ĐỊNH MỘT QUAN NIỆM VẺ TẬP LÀM VĂN Ở TIỂU HỌC I. Tam quan trong cua tiếng mẹ đẻ trong chương trình tiếu học Tiếng mẹ đẻ có vai trò cực kì quan trọng trong đời sống cộng đồng và đời sống mỗi con người.
Với cộng đồng, đó là công cụ để giao tiếp và tư duy. Đối với trẻ em, tiếng mẹ đẻ càng có vai trò quan trọng. U-sin-xki chỉ rõ "tré em đi uào đời sống tính thần của mọi người xung quanh nó, duy nhất thông qua phương tiện tiếng mẹ đẻ uà ngược lại, thế giới bao quanh đứa trẻ được phản ánh trong nó chỉ thông qua chính công cụ này" ®, Do đó trẻ em cần được học tiếng mẹ đé một cách khoa học, cẩn thận đế có thế sử dụng công cụ này trong những năm tháng học tập ở nhà trường cũng như trong suốt cuộc đời. Tiếng mẹ đẻ và toán học là những môn học Công cụ.
quan trọng ở trường tiểu học. thành một môn học, tiếng mẹ đé. có tính chất hai mặt : nó vừa là đối tượng học tập của HS, vừa tạo cho các em công cụ để học các môn khác, công cụ để tư duy, giao tiếp. — - ứ! Chuyên dẫn theo Lê Phương Nga- Đỗ Xuân Thảo- Lê Hữu Tỉnh, Phương pháp: dạy học tiếng Việt ở tiểu học, Trường ĐHSP Hà Nội I, H.
5 Do tắm quan trọng của tiếng mẹ đẻ, không quốc gia nào không chăm lo việc dạy môn học này trong nhà trường, đặc biệt ở trường tiểu học. Môn học tiếng mẹ đẻ là môn học bắt buộc suốt cấp Tiểu học, chiếm nhiều thời gian học tập. Sau đây là thời gian học tập tiếng mẹ đề trong trường tiểu học ở một số nước : STT Tên chương trình -. hoetip l Chuong trình tiếng Việt 34.2% 2 | Chương trình tiếng Pháp 1985 - - | 31.8% | 3 | Chương trình tiếng Pháp 1995.
| — 31% 4_ | Chương trình tiếng Nhật | 25.2% 5 | Chương trình tiếng In-đô-nê-xi-a 31.37% 6_ | Chương trình tiếng Phi-líp-pin 40% 7 | Chương trình tiếng Hàn Quốc 22.82% 8 - | Chương trình tiếng Đức (CHLB Đức) 44.14% 9| Chương trình tiếng Nga (Liên Xô trước đây) _ 40% Nghiên cứu chương trình dạy tiếng mẹ đẻ của nhiều nước cho thấy mục tiêu môn học này là dạy trẻ em học cách sử dụng tiếng mẹ đẻ làm công cụ để tư duy và giao tiếp. Xét về cách cấu tạo nội dung, các cHương trình dạy tiếng mẹ đẻ ở tiếu học mà chúng ta sưu tâm được, có thể chia thành hai nhóm : nhóm có cấu tạo theo phân môn và nhóm có cấu tạo theo các năng lực ngôn ngữ. Dù cấu tạo theo cách nào, chương trình học tiếng mẹ đẻ của các nước đều đật vấn đề dạy cá ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, trong đó việc dạy ngôn bán nói và ngôn bản viết là trọng tâm. Xem xét nội dung dạy:tiếng mẹ đẻ;côn chú ý tránh-cả hai xu:hướng thiện:lệch.nhe việc dạy ngôn-ngử ôn viết; ngôn bản nói, ngôn bản nói, chỉ nhấn một chiểu việc, dạy-ngngữ nói, ngôn bán ngữn viết; hoặc quá chú trọng đến vai trò của ngô rỗi.
Đây © 6 là kinh nghiệm rút ra sau 10 nam thực hiện chươ ng trình tiếng Pháp ban hành 1969 của bang Quê-béc (Ca-na-đa). Kinh nghiệm dạy tiếng Việt cũng cho thấy : can chú trọng dạy cả ngôn - ngữ nói và ngôn ngữ viết nhưng có điểm nhấn ớ ngôn ngữ viết. Một số khái niệm cân xác định Trong nghiên cứu ngôn ngữ học, người ta phân biệt ba khái niệm : ngôn ngữ, lời nói và hoạt động ngôn ngữ. _—- Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp ở dạng khả năng tiểm tàng, .từu tượng hoá khỏi bất kì một sự áp đụng cụ thể nào của chún g.
| phương tiện giao tiếp ở dạng hiện thực hoá, tức là ở dạng hoạt động, gắn liền với các tình huống cụ thể, nội dung cụ thể. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ Uà lời nôi là mối quan hệ giữa cái chung va cái riêng. Trong giao tiếp diễn ra hiện tượng trao đổi các ngôn bán. Sự trao đối này bao gồm hai loại hành động luôn gắn bó với nhau : hành động sản --.
_sinh ngôn bản (bao gồm hành động nói và viết), hành động lĩnh hội ngôn res bản (bao gồm hành động hiểu ngôn bản đọc được, nghe được)zCáedữnh ; Pie | động sản sivành lĩnh hội ngôn bán goiià hành động ngôn ngữ. vn các hành động ngôn ngữ tạo thành hoạt động ngôn ngữ. Để đạt mục tiêu dạy sử dụng tiếng mẹ đẻ làm công cụ để giao tiếp và tư duy, trường tiểu học cần hướng tới việc dạy lời nói, Vì vậy, việc dạy ngôn bản nói và ngôn bản viết có vai trò quan trọng, bởi như trên đã nêu, trong giao tiếp người ta chỉ trao đổi các ngôn bản. Trong chương trình tiếng Việt, phân môn TLV có nội dung chú yếu là dạy HŠ sản sinh các ngôn bản nói và viết.
Đương nhiên, để có thể nói hoặc viết được các ngôn bản, HS phải hiểu được các ngôn bản tiếp nhận khi giao tiếp. Do đó, TLV cũng bao hàm cả nội dung dạy linh hội ngộp ;bún. Song việc dạy sản sinh các ngôn bản uẫn là nhiệm uụ chính, nội dung học tập chính. Đề chỉ ngôn bản, sản phẩm của phân môn TLV, nhà trường phổ thông Việt Nam quen dùng thuật ngữ bài uăn.
Tương ứng với ngôn bản nói là bài văn nói, tương ứng với ngôn bản viết là bài văn viết. Tuy nhiên, nếu đạy nói theo hướng hội thoại và độc thoại thì sản phẩm của tiết TLV nói sẽ là lời thoại, bài thoại. Nên dạy Tập làm văn theo phương hướng nào ? Hiện nay dạy TLV nói và TLV viết trong giao tiếp và để giao tiếp là phương hướng hiện đại mà nhiều nước đang phấn đấu thực hiện. Chương trình dạy tiếng Pháp của bang Quê-béc (Ca-na-đa) quy định "việc giảng dạy tiếng Pháp phải dựa trên việc thực hành ngôn ngữ và trong lớp học tiếng Pháp, HS phải luôn luôn được đặt vào tình huống giao tiếp”.
Ở một đoạn khác, chương trình lại nhấn mạnh: “Cơ bản là phái đặt học sinh trong một tình huống giao tiếp làm sản sinh hoặc thông hiếu lời nói”. Chương trình dạy tiếng Pháp năm 1985 cũng khẳng định : "Việc giáng dạy tiếng Pháp sẽ cho HS một ngôn ngữ giao tiếp phong phú, đa dang, dong thời thích ứng với nền văn hoá sống động của nhân loại". Nói về mục đích của việc học tiếng Đức, chương trình Cộng hoà dân chủ Đức (cũ) xác định "nguyên tắc chỉ đạo việc quy hoạch và tổ chức dạy học tiếng mẹ đé ở nhà trường. là triệt để phục uụ năng lực giao tiếp của họ".
Những tuyên ngôn trên khẳng định : dạy tiếng trong giao tiếp (hoặc bằng giao tiếp) uà để giao tiếp là phương hướng giảng dạy tiếng mẹ đé của nhiễu nước. Đây là xu hướng hiện đại, tiên tiến được khẳng định trên cơ sớ kinh nghiệm hàng thế kỉ dạy tiếng mẹ đẻ và trên cơ sở các thành tựu của _ ngôn ngữ học hiện đại. Theo phương hướng đó, việc dạy TLV nói và viết cũng lấy giao tiếp làm môi trường và phương pháp, lấy việc phục vụ giao tiếp làm nhiệm vụ và mục đích. Phương:hướng dạy TLV trong:giao tiếp và để giao tiếp đã tạo nên sự thay đối cơ bản trong cấu trúc chương trình, lựa chọn nội dung và phương pháp giảng dạy.a) Về cấu trúc Chương trình TLV nói và TLV viết được xây dựng thành hai mạch riêng, độc lập nhưng vẫn có quan hệ với nhau.
| Hiện nay có hai cách xây dựng chương trình dạy TLV. Cách thứ nhất, xây dựng một chương trình chung cho ca TLV noi va TLV viết. Đây là cách làm của Cộng hoà dân chủ Đức (cũ), Việt Nam,. Chương trình làm theo cách này, nội dung và yêu cầu dạy ngôn bản nói thường bị lu mờ.
Nổi trội hơn là nội dung yêu cầu dạy ngôn bản viết. Có lẽ nguyên nhân chủ yếu dẫn đến cách làm này là do nên tảng tri thức về ngôn ngữ học chức năng 8 còn quá yếu, chưa tiếp thu được các thành tựu của việc nghiên cứu ngón ngữ trong giao tiếp xã hội. Một nguyên nhân khác là quan niệm coi nhẹ việc dạy TLV nói trong nhà trường, cho rằng con người sinh ra đã biết nói tiếng mẹ đé, do đó nhà trường chí cần dạy ngôn ngữ viết, TLV viết. Ở Việt Nam, cách xây dựng chương trình trên đã dẫn tới cách dạy trong đó bài TLV nói mất đi tính độc lập, mất đi các yêu cầu phát triển ngôn ngữ nói, trở thành một thao tác chuẩn bị cho bài TLV viết.
Chúng ta sẽ trớ lại vấn dé nay khi phan tich chuong trinh TLV. Cách thứ hai là xây dựng hai mạch chương trình riêng, mạch chương trinh day TLV noi va mach chueng trinh day TLV viết. Chương trình day tiếng mẹ đẻ của phần lớn các nước phát triển đều đi theo cách này.