Tổng quan về giáo trình

Giáo trình Dạy kể chuyện ở trường Tiểu học do tác giả Chu Huy biên soạn, được Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành (Mã số: 8G376T1 GD-01; 1536/744-00). Đây là tài liệu thuộc lĩnh vực phương pháp dạy học bộ môn Tiếng Việt và Văn học bậc Tiểu học. Trong chương trình giáo dục tiểu học, phân môn Kể chuyện được xếp liền sau phân môn Tập đọc và Học thuộc lòng, thời lượng thực hiện quy định từ 30 đến 40 phút cho mỗi tuần học.

Mục tiêu học tập của tài liệu tập trung cung cấp cho người học hệ thống cơ sở lí luận bộ môn, phương pháp và kĩ thuật tổ chức tiết học, cùng phương hướng tự bồi dưỡng năng lực nghiệp vụ sư phạm. Về cấu trúc, sách gồm bốn phần chính: Phần mở đầu giới thiệu tổng quát về vị trí và thực trạng phân môn; Phần I cung cấp cơ sở lí luận, thực tiễn và bảng phân loại 11 thể loại truyện chọn; Phần II đi sâu vào phương pháp dạy học cụ thể theo các khối lớp (lớp 1; lớp 2, 3; lớp 4, 5), kĩ thuật lên lớp, thủ thuật sư phạm và tổ chức hoạt động ngoại khóa; Phần III định hướng công tác tự bồi dưỡng, kiểm tra và tự đánh giá hiệu quả dạy học.

Điểm đặc sắc của tài liệu là cách tiếp cận kết hợp giữa lí luận văn học, giáo dục học và thực hành sư phạm ứng dụng. Nội dung công trình không dừng lại ở mức độ đề cương hướng dẫn bài giảng đơn thuần mà đi sâu giải quyết mối quan hệ bản chất giữa phương tiện nghệ thuật ngôn ngữ truyền miệng và tâm lí tiếp nhận của học sinh lứa tuổi 6–11.


Nội dung kiến thức cốt lõi

                             GIÁO TRÌNH DẠY KỂ CHUYỆN Ở TIỂU HỌC
                                         (Chu Huy)
[PHẦN MỞ ĐẦU]       [PHẦN I]                                [PHẦN II]          [PHẦN III]
Tổng quan &        Cơ sở lí luận &                         Phương pháp dạy     Phương hướng
thực trạng bộ môn  11 Thể loại truyện chọn                 & Hoạt động         tự bồi dưỡng
   Thuật ngữ &                   Sưu tầm, chọn   Phương pháp theo              Kĩ thuật sư phạm,
   4 phạm trù                   & nguyên tắc     khối lớp (1, 2-3, 4-5)        thi kể chuyện &
   ngữ nghĩa                    chỉnh lí bản kể                                hoạt cảnh sân khấu

Các chương/chủ đề chính

  1. Phần mở đầu và Khái niệm thuật ngữ: Xác lập 4 phạm trù ngữ nghĩa của thuật ngữ "kể chuyện": loại hình tự sự trong văn học; phương pháp trực quan sinh động bằng lời nói trong diễn giảng; thể loại văn thuật chuyện trong phân môn Tập làm văn; và tên một phân môn chính thức trong chương trình tiểu học.
  2. Cơ sở tâm lí và nhiệm vụ bộ môn: Phân tích nhu cầu tiếp nhận truyện kể của trẻ em từ 3 đến 11 tuổi dựa trên các nghiên cứu tâm lí học. Giáo trình trích dẫn quan điểm của V. Sukhomlinsky và A. Pushkin về vai trò của truyện cổ dân gian trong việc hình thành xúc cảm thẩm mĩ, nhận thức thế giới và giáo dục nhân cách.
  3. Lược khảo 11 thể loại truyện trong chương trình:
    • Truyện thần thoại: Phản ánh quan hệ con người - tự nhiên thời tối cổ, chứa đựng mầm mống triết học duy vật thô sơ (dẫn luận ý kiến Karl Marx, V.I. Lenin, M. Gorky).
    • Truyện truyền thuyết: Gắn liền với lịch sử thời khuyết sử và quá trình "lịch sử hóa" thần thoại (dẫn phân tích của GS. Đỗ Bình Trị về chùm truyện thời đại Hùng Vương như Sơn Tinh Thủy Tinh, Thánh Gióng, An Dương Vương).
    • Truyện cổ tích: Phản ánh mâu thuẫn xã hội và quan hệ người - người (Tấm Cám, Thạch Sanh, Cây khế).
    • Truyện vui dân gian: Kết cấu ngắn gọn, kết thúc bất ngờ, tạo tiếng cười châm biếm hoặc giải trí (Phù thủy sợ ma, Con rắn vuông).
    • Truyện ngụ ngôn (đồng thoại): Chứa đựng bài học luân lí, phát triển tư duy lôgíc (Sên Thỏ, Thầy bói xem voi).
    • Truyện lịch sử và Truyện danh nhân: Giới thiệu nhân vật có thật trong sử sách (Bà Trưng, Quang Trung, Cao Bá Quát, Lê Công Hành, Edison, Galileo, Magellan).
    • Truyện khoa học, Truyện "người thực việc thực", Truyện cảnh giác (như tác phẩm Người bạn đường của Chồn Trắng của Thanh Châu) và Truyện sáng tác hiện đại (trích tác phẩm của Edmondo De Amicis, Guy de Maupassant, K. Paustovsky).
  4. Nguyên tắc sưu tầm, biên soạn và chỉnh lí bản kể: Phân định ranh giới giữa "truyện đọc" và "truyện kể". Dẫn giải quan niệm của Lê Văn Khoa về tính "nghệ thuật nguyên hợp" của văn học dân gian (kết hợp lời văn, âm nhạc, ngữ điệu, diễn xuất) và quan điểm của K.D. Ushinsky, GS. Đỗ Bình Trị về việc không được tùy tiện hiện đại hóa tâm lí nhân vật hay thêm thắt chi tiết ngoại lai làm mất đi môtíp gốc.
  5. Phương pháp giảng dạy và kĩ thuật sư phạm: Trình bày cấu trúc giờ lên lớp (30–40 phút); kĩ thuật sử dụng ngữ điệu, trọng âm tiếng Việt, cường độ giọng, ngắt giọng tâm lí/lôgíc; kĩ thuật ghi bảng có chọn lọc; quy trình sử dụng đồ dùng trực quan (tranh ảnh, hiện vật, bản đồ, phim đèn chiếu).
  6. Hoạt động ngoại khóa và sân khấu hóa: Quy trình tổ chức thi kể chuyện ở 3 cấp độ (lớp, khối lớp, toàn trường) và phương pháp dàn dựng hoạt cảnh sân khấu hóa truyện đọc (kèm kịch bản mẫu Con vượn và con tắc kè chuyển thể từ Truyện đọc 4).

Kiến thức nền tảng được xây dựng

  • Lí luận giáo dục học bộ môn: Quá trình dạy học là mối quan hệ tương tác hai chiều, khép kín giữa hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động tiếp nhận/tái tạo của học sinh.
  • Lí luận tiếp nhận văn học dân gian: Khái niệm môtíp nghệ thuật, tính nguyên hợp của văn học dân gian và quy luật tiếp nhận hình tượng qua thính giác - thị giác.
  • Nguyên tắc phạm trù hóa: Quy tắc phân loại truyện dựa trên cấu trúc cốt truyện, tình tiết, hệ thống nhân vật và chức năng giáo dục - giáo dưỡng chuyên biệt.

Kỹ năng phát triển

  • Kĩ năng phân tích cấu trúc văn bản tự sự: Nhận diện các môtíp định hình, chuỗi tình tiết nhân quả và tính cách nhân vật điển hình để chuyển thể từ văn bản đọc sang văn bản kể.
  • Kĩ thuật biểu đạt ngôn ngữ miệng: Điều chỉnh âm lượng, kiểm soát ngữ điệu kể/hỏi/cầu khiến/cảm thán, xác định điểm ngắt giọng tâm lí trước các tình huống cao trào, phối hợp nét mặt và cử chỉ hỗ trợ.
  • Năng lực thiết kế và thực thi bài giảng: Soạn giáo án theo đặc trưng phân môn, thiết kế bảng tóm tắt nhân vật - đối thoại, sắp đặt thời điểm trực quan hóa đồ dùng dạy học (dưới 5 phút), điều hành hoạt động đàm thoại rút bài học.
  • Năng lực chuyển thể và đạo diễn sân khấu học đường: Viết kịch bản hoạt cảnh từ truyện đọc, phân vai, hướng dẫn học sinh biểu diễn và tổ chức hội thi theo thể thức chuyên môn.

Phương pháp giảng dạy và học tập

                    QUY TRÌNH MỘT TIẾT KỂ CHUYỆN TRÊN LỚP (30-40 PHÚT)

Giáo trình định hướng phương pháp giảng dạy dựa trên mô hình phát triển năng lực lời nói và tư duy hình tượng, chia quá trình tổ chức thành các khâu cụ thể:

  • Tổ chức bài học trên lớp: Giáo trình yêu cầu giáo viên không đọc chép lại văn bản hay phụ thuộc vào sách giáo khoa trong giờ dạy. Tiết học 30–40 phút được phân bổ cho các hoạt động: nhập đề tạo không khí; giáo viên kể mẫu bằng lời kể truyền cảm; ghi bảng có chọn lọc nhằm gợi ý chuỗi tình tiết; tổ chức cho học sinh tập kể theo đoạn hoặc toàn bộ truyện; đàm thoại ngắn về hành động và tính cách nhân vật.
  • Nghiên cứu tình huống (Case studies): Tài liệu phân tích cụ thể phương án xử lí tình huống bài dạy qua các tác phẩm tiêu biểu:
    • Phân tích chuỗi môtíp nhân quả trong truyện Tấm Cám (rơi giày $\rightarrow$ hội thử giày; quả thị $\rightarrow$ têm trầu cánh phượng).
    • Phương pháp ghi bảng cô đúc qua bảng phân tích đối thoại giữa 3 chú bé du kích và sĩ quan phát xít trong truyện Những chú bé không chết.
    • Cách thức đưa đồ dùng trực quan đúng thời điểm: đưa tranh Thánh Gióng ngay đầu tiết để nhập đề; trình chiếu chân dung và bản đồ hành trình của Magellan ở cuối tiết sau khi học sinh đã nắm địa danh; truyền tay hiện vật chuông lắc trong truyện Đeo lục lạc cho Mèo.
  • Phương pháp kiểm tra, đánh giá: Giáo trình chỉ rõ việc đánh giá kết quả phân môn Kể chuyện không thông qua bài kiểm tra viết mà thực hiện trực tiếp qua quan sát kĩ năng diễn đạt miệng của học sinh tại lớp; đối với hội thi ngoại khóa, áp dụng hình thức ban giám khảo bỏ phiếu kín độc lập và nhận xét vào sổ theo dõi.
  • Hướng dẫn tự học: Giáo viên và sinh viên thực hành rèn luyện giọng kể cá nhân qua các quy tắc: không dùng giọng the thé, gắt gỏng; giữ cường độ giọng ở mức trung bình có độ vang; tập ngắt giọng tâm lí ở các đoạn thắt nút truyện (như đoạn A-li Ba-ba và bốn mươi tên cướp khi Ca-xim quên câu thần chú mở cửa hang đá).

Điểm nổi bật và cập nhật

Tiêu chí Nội dung chi tiết trong giáo trình
Lịch sử ấn bản In lần 1 năm 1985 với tên Dạy kể chuyện ở các lớp cấp Một; lần 2 đổi tên thành Dạy kể chuyện ở trường Tiểu học, bổ sung Phần III về kiểm tra, tự đánh giá; tái bản lần thứ tư cập nhật chương trình cải cách giáo dục.
Chuyển đổi danh mục sách Phân tích quá trình chuyển dịch từ việc sử dụng các cuốn Kể chuyện độc lập sang hệ thống sách Truyện đọc và phần hướng dẫn phương pháp trong Sách giáo viên Tiếng Việt.
Đổi mới phương pháp Khắc phục tình trạng "thực hành không có lí luận" (trích dẫn cảnh báo của K.D. Ushinsky) và lối dạy thụ động, học vẹt, giáo điều theo nhận định của tài liệu Sơ thảo về phương pháp giảng dạy ngữ văn.
Gắn kết thực tiễn Cung cấp kịch bản sân khấu hóa chi tiết (Con vượn và con tắc kè với hệ thống nhân vật: Pọ Phạ, Tiểu thần, Vượn, Tắc kè và muôn loài chim thú) cùng hướng dẫn chuẩn bị đạo cụ, phông nền, âm nhạc sáo trúc.

Đối tượng sử dụng giáo trình

  1. Học sinh, sinh viên sư phạm: Sinh viên theo học chuyên ngành Giáo dục Tiểu học tại các trường Cao đẳng Sư phạm, Đại học Sư phạm, hoặc học sinh các trường Trung học Sư phạm hệ hoàn chỉnh sử dụng làm tài liệu học tập phương pháp dạy học phân môn Kể chuyện.
  2. Giáo viên tiểu học tại ngũ: Giáo viên giảng dạy khối lớp 1, 2, 3, 4, 5 sử dụng làm tài liệu tự bồi dưỡng chuyên môn, tra cứu phương pháp lên lớp cho từng thể loại truyện đọc cụ thể và định hướng thiết kế giáo án.
  3. Cán bộ quản lí chuyên môn: Cán bộ phụ trách khối tiểu học, chuyên viên phụ trách bộ môn Tiếng Việt tại các Phòng/Sở Giáo dục và Đào tạo, Ban chỉ huy Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh sử dụng làm căn cứ chỉ đạo chuyên đề và tổ chức hội thi kể chuyện các cấp.
  4. Điều kiện tiên quyết (Prerequisites): Người đọc cần nắm vững kiến thức cơ sở về Văn học dân gian, Tiếng Việt thực hành và Tâm lí học lứa tuổi học sinh tiểu học (giai đoạn 6–11 tuổi).

Câu hỏi thường gặp

1. Giáo trình này phù hợp với ai?

Tài liệu được biên soạn phục vụ sinh viên chuyên ngành Giáo dục Tiểu học, học sinh Trung học Sư phạm hệ hoàn chỉnh và toàn thể giáo viên đang trực tiếp giảng dạy tại các trường tiểu học.

2. Người học cần chuẩn bị kiến thức nền tảng nào?

Người học cần có kiến thức cơ bản về văn học (đặc biệt là đặc trưng thi pháp của các thể loại văn học dân gian và truyện ngắn hiện đại), các nguyên lí giáo dục học đại cương và hiểu biết về đặc điểm tâm sinh lí của trẻ từ 6 đến 11 tuổi.

3. Giáo trình này có điểm gì khác biệt so với sách giáo viên Tiếng Việt?

Sách giáo viên Tiếng Việt chỉ cung cấp đề cương hướng dẫn ngắn gọn cho từng bài cụ thể. Giáo trình của Chu Huy cung cấp hệ thống lí luận về phương pháp dạy học, phân tích bản chất 11 thể loại truyện, kĩ thuật ngôn ngữ nói, cách xử lí tình huống sư phạm và kịch bản dàn dựng hoạt cảnh ngoại khóa.

4. Làm thế nào để tự học giáo trình hiệu quả?

Người học nên nghiên cứu kĩ cơ sở lí luận ở Phần I để nắm vững đặc trưng 11 thể loại truyện, sau đó đối chiếu với các phương pháp lên lớp và thủ thuật sư phạm (ngữ điệu, ghi bảng, đồ dùng) ở Phần II. Giáo viên phụ trách khối lớp nào có thể đọc sâu vào chương hướng dẫn của khối lớp đó kết hợp tập luyện các kịch bản hoạt cảnh mẫu.

5. Giáo trình có tích hợp tài liệu bổ trợ nào không?

Giáo trình cung cấp các mẫu giáo án tham khảo, hệ thống bảng ghi mẫu cho tiết dạy, cùng 2 kịch bản hoạt cảnh chuyển thể hoàn chỉnh kèm chỉ dẫn chi tiết về lời thoại, bài trí sân khấu, hóa trang và âm nhạc để phục vụ hoạt động ngoại khóa.


Kết luận

Giáo trình Dạy kể chuyện ở trường Tiểu học của tác giả Chu Huy hệ thống hóa toàn diện các cơ sở lí luận, đặc trưng thể loại và kĩ thuật thực hành sư phạm của phân môn Kể chuyện bậc tiểu học. Tác phẩm xác lập rõ vị trí của việc rèn luyện kĩ năng nói nghệ thuật, đồng thời cung cấp công cụ tổ chức dạy học từ khâu soạn bài, lên lớp cho đến các hoạt động sân khấu hóa ngoại khóa.

Lộ trình học tập đề xuất: Nghiên cứu 4 phạm trù ngữ nghĩa và bản chất 11 thể loại truyện $\rightarrow$ Thực hành các kĩ thuật sử dụng giọng nói, ghi bảng và đồ dùng trực quan $\rightarrow$ Ứng dụng thiết kế bài giảng theo từng khối lớp và tổ chức hoạt động thi kể chuyện, dàn dựng hoạt cảnh học đường. Tài liệu được sử dụng kết hợp cùng hệ thống sách Truyện đọc và Sách giáo khoa, Sách giáo viên Tiếng Việt cấp Tiểu học.