Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức - Tạo tình huống có vấn đề. - Phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh. - Phát hiện vấn đề cần giải quyết. * Giải quyết vấn đề đặt ra - Đề xuất cách giải quyết.
- Lập kế hoạch giải quyết. - Thực hiện kế hoạch giải quyết. * Kết luận: - Thảo luận kết quả và đánh giá. - Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra.
- Phát biểu kết luận. - Đề xuất vấn đề mới. Các cấp độ dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề Trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề thƣờng phân biệt 3 cấp độ khác nhau tùy theo mức độ độc lập của học sinh trong hoạt động học tập: Cấp độ 1 : Thuyết trình giải quyết vấn đề: Giáo viên tạo tình huống có vấn đề, nêu vấn đề và trình bày cách giải quyết vấn đề; học sinh thực hiện giải quyết vấn đề theo hƣớng dẫn của giáo viên. Cấp độ 2: Đàm thoại nghiên cứu vấn đề: Học sinh phát hiện và giải quyết vấn đề nhờ sự gợi ý, đẫn dắt của giáo viên.
Cấp độ 3: Tự nghiên cứu vấn đề: Giáo viên tạo tình huống có vấn đề, 16 học sinh tự phát hiện và giải quyết vấn đề. Quy trình dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề Đặc điểm của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề: Mục đích dạy học không phải chỉ giúp cho học sinh lĩnh hội đƣợc kết quả của quá trình phát hiện và giải quyết vấn đề, mà còn ở chỗ giúp cho họ phát triển khả năng tiến hành những quá trình nhƣ vậy. Nói cách khác, đƣợc học chính bản thân việc học. Vì vậy, quy trình dạy học có thể thực hiện theo các bƣớc sau: Bƣớc 1: Phát hiện/thâm nhập vấn đề - Giáo viên tạo tình huống gợi vấn đề.
- Học sinh phát hiện vấn đề từ tình huống gợi vấn đề - Giáo viên hƣớng dẫn học sinh phát biểu vấn đề và đặt mục đích giải quyết vấn đề đó. Bƣớc 2: Tìm giải pháp - Tìm một cách giải quyết vấn đề. Kết quả của việc đề xuất và thực hiện hƣớng giải quyết vấn đề là hình thành đƣợc một giải pháp. - Kiểm tra giải pháp xem nó có đúng đắn hay không.
Nếu giải pháp đúng thì kết thúc ngay, nếu không đúng thì lặp lại từ khâu phân tích vấn đề cho đến khi tìm đƣợc giải pháp đúng. - Sau khi đã tìm ra một giải pháp, có thể tiếp tục tìm thêm những giải pháp khác, so sánh chúng với nhau để tìm ra giải pháp hợp lý nhất. Bƣớc 3: Trình bày giải pháp - Học sinh (cá nhân/nhóm) trình bày lại toàn bộ từ việc phát biểu vấn đề cho tới giải pháp. - Giáo viên hƣớng dẫn cả lớp nhận xét, đánh giá để hoàn thiện giải pháp.
Bƣớc 4: Nghiên cứu sâu giải pháp - Tìm hiểu những khả năng ứng dụng kết quả. - Đề xuất những vấn đề mới có liên quan nhờ xét tƣơng tự, khái quát 17 hoá, lật ngƣợc vấn đề,… và giải quyết nếu có thể. Dạy học theo quan điểm kiến tạo 1. Quan niệm về dạy học kiến tạo Lý thuyết kiến tạo (LTKT) (Constructivism Theory) đang là một trong những lý thuyết về dạy học vƣợt trội đƣợc sử dụng trong giáo dục.
Lý thuyết này khuyến khích học sinh tự xây dựng kiến thức cho mình dựa trên những thực nghiệm cá nhân và áp dụng trực tiếp vào môi trƣờng học tập của các em. Mỗi cá nhân học sinh là trung tâm của tiến trình dạy học, còn giáo viên đóng vai trò tổ chức điều khiển và là ngƣời đại diện cho tri thức khoa học chính thống, đóng vai trò trọng tài để thể chế hóa tri thức mới của bài học. Theo quan điểm của LTKT thì tri thức đƣợc tạo nên một cách tích cực bởi chủ thể nhận thức chứ không phải tiếp thu một cách thụ động từ bên ngoài. Trong quá trình chiếm lĩnh tri thức bằng kinh nghiệm, kiến thức đã có từ trƣớc thông qua quá trình đồng hóa (Assimilation) và điều ứng (Accomodation) HS sẽ tự xây dựng cho mình một hệ thống tri thức có sắc thái riêng và có khả năng vận dụng hệ thống tri thức này vào giải quyết các vấn đề do thực tiễn đặt ra.
Theo Piaget đồng hóa là quá trình HS vận dụng kiến thức cũ để giải quyết tình huống mới và sắp xếp kiến thức mới thu nhận đƣợc vào cấu trúc kiến thức hiện có. Muốn thế khi tổ chức quá trình dạy học GV cần phải làm cho HS bộc lộ quan niệm của mình về vấn đề học tập, cần tổ chức cho HS hệ thống hóa và khai thác kinh nghiệm cũ nhằm phát triển nhận thức cho bản thân HS và phổ biến cho cả lớp. Để đồng hóa đƣợc kiến thức mới và cũ cần phải tiến hành quá trình phân tích, tổng hợp, so sánh,… nhằm đánh giá lại kiến thức cũ từ đó sắp xếp lại hệ thống kiến thức sao cho hoàn thiện, chính xác hơn. Quy trình dạy học kiến tạo Chu trình của dạy học kiến tạo gồm các pha chính sau đây: Tri thức cũ → Dự đoán → Kiểm nghiệm (thử và sai) → Điều chỉnh → Tri thức mới.
Do đó tiến trình của dạy học kiến tạo bao gồm 3 bƣớc sau: - Bƣớc 1: Làm bộc lộ quan niệm của HS: Trong bƣớc này giáo viên giúp HS hệ thống, ôn lại các kiến thức cũ có liên quan đến kiến thức mới bằng cách sử dụng các câu hỏi, các bài tập. Sau đó GV hoặc HS sẽ nêu vấn đề (bài tập, thí nghiệm, câu hỏi,.) từ đó tạo cơ hội cho HS bộc lộ quan niệm của mình về vấn đề học tập. - Bƣớc 2: Tổ chức điều khiển HS thảo luận: GV tổ chức cho HS đề xuất các giả thuyết, kiểm tra giả thuyết (thử và sai) phân tích kết quả và từ đó rút ra kết luận chung cho cả lớp. - Bƣớc 3: Tổ chức cho HS vận dụng kiến thức: GV tổ chức cho HS vận dụng kiến thức giải quyết các vấn đề về lý thuyết cũng nhƣ thực tiễn qua đó giúp HS khắc sâu hơn kiến thức mới.
Trong quá trình dạy học kiến tạo bản thân HS không phải là một cái thùng rỗng để GV rót đầy kiến thức vào đó mà là chủ thể hoạt động trên cơ sở vận dụng những kiến thức hoặc kinh nghiệm đã có từ trƣớc để giải quyết một tình huống mới nảy sinh và sắp xếp kiến thức mới vào hệ thống kiến thức đã có và chỉ khi nào HS tạo đƣợc mối liên hệ hữu cơ giữa kiến thức mới và cũ, sắp xếp vào hệ thống kiến thức đã có thì lúc đó kiến thức mới sẽ có giá trị ứng dụng và không bị lãng quên. Dạy học khám phá 1. Quan niệm về dạy học khám phá Dạy học khám phá là giáo viên tổ chức cho học sinh tự tìm tòi phát hiện, khám phá ra tri thức mới, cách thức hành động mới nhằm phát huy năng lực giải quyết vấn đề và tự học cho học sinh. Qua đó, học sinh học, 19 kĩ năng, và thái độ học tập tích cực.
Trong đó, ngƣời học đóng vai trò là ngƣời phát hiện còn ngƣời dạy đóng vai trò là chuyên gia tổ chức. Trong dạy học khám phá đòi hỏi ngƣời giáo viên gia công rất nhiều để chỉ đạo các hoạt động nhận thức của học sinh. Hoạt động của ngƣời thầy bao gồm: định hƣớng phát triển tƣ duy cho học sinh, lựa chọn nội dung của vấn đề và đảm bảo tính vừa sức với học sinh; tổ chức học sinh trao đổi theo nhóm trên lớp; các phƣơng tiện trực quan hỗ trợ cần thiết… Hoạt động chỉ đạo của giáo viên nhƣ thế nào để cho mọi thành viên trong các nhóm đều trao đổi, tranh luận tích cực. Trong dạy học khám phá, học sinh tiếp thu các tri thức khoa học thông qua con đƣờng nhận thức: từ tri thức của bản thân thông qua hoạt động hợp tác với bạn đã hình thành tri thức có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học; Giáo viên kết luận về cuộc đối thoại, đƣa ra nội dung của vấn đề, làm cơ sở cho học sinh tự kiểm tra, tự điều chỉnh tri thức của bản thân tiếp cận với tri thức khoa học của nhân loại.
Học sinh có khả năng tự điều chỉnh nhận thức góp phần tăng cƣờng tính mềm dẻo trong tƣ duy và năng lực tự học. Ðó chính là nhân tố quyết định sự phát triển bản thân ngƣời học. Ðặc trƣng của dạy học khám phá là giải quyết các vấn đề học tập nhỏ và hoạt động tích cực hợp tác theo nhóm, lớp để giải quyết vấn đề. Dạy học khám phá có nhiều khả năng vận dụng vào nội dung của các bài.
Dạy học nêu vấn đề chỉ áp dụng vào một số bài có nội dung là một vấn đề lớn, có mối liên quan logic với nội dung kiến thức cũ. Dạy học khám phá hình thành năng lực giải quyết vấn đề và tự học cho học sinh, chƣa hình thành hoàn chỉnh khả năng tƣ duy lôgic trong nghiên cứu khoa học nhƣ trong cấu trúc dạy học nêu vấn đề. Tổ chức dạy học khám phá thƣờng xuyên trong quá trình dạy học là tiền đề thuận lợi cho việc vận dụng dạy học nêu vấn đề. Quy trình tổ chức hoạt động dạy học khám phá - Cấu trúc dạy học khám phá: 20 Giáo viên nêu vấn đề học tập Dạy học khám phá Học sinh hợp tác giải quyết vấn đề Thực chất dạy học khám phá là một phƣơng pháp hoạt động thống nhất giữa thầy với trò đã giải quyết vấn đề học tập phát sinh trong nội dung của tiết học.
- Quy trình tổ chức + Học sinh tiếp nhận nhiệm vụ (GV đƣa ra dƣới dạng câu hỏi, sơ đồ, một bảng biểu,…) + Học sinh tìm kiếm, khám phá dƣới sự hƣớng dẫn và điều khiển của giáo viên. + Học sinh báo cáo kết qủa trƣớc lớp, có sự chất vấn và thảo luận của cả lớp + Phân tích và đánh giá kết quả ( Học sinh tự đánh giá, Giáo viên đánh giá) 1. Dạy học hợp tác theo nhóm 1. Quan niệm về dạy học theo nhóm Năng lực hợp tác nhóm đƣợc xem là một trong những năng lực quan trọng của con ngƣời trong xã hội hiện nay, chính vì vậy, phát triển năng lực hợp tác từ trong trƣờng học đã trở thành một xu thế giáo dục trên thế giới.
Dạy học hợp tác trong nhóm chính là sự phản ánh thực tiễn của xu thế đó.