Chương 1. Cơ sở lý luận của quản lý xây dựng kế hoạch bài dạy cho giáo viên ờ các trường Tiểu học theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học. Thực trạng quản lý xây dựng kể hoạch bài dạy cho giáo viên ở các trường TH huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học Chương 3. Biện pháp quản lý xây dựng kế hoạch bài dạy cho giáo viên ở các trường TH huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học.
6 CHUÔNG 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ XÂY DựNG KẾ HOẠCH BÀI DẠY CHO GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG TIỀU HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT VÀ NĂNG LỤC NGƯỜI HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7. Các nghiên cửu ở nước ngoài Dạy học ở các trường phố thông nói chung và các trường TH nói riêng đến nay đã có một số tác giả, nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu về các vấn đề liên qua đến lý luận dạy học, phương pháp dạy học. Trong phạm vi cho phép, có thể đề cập đến một số nghiên cứu sau: Nhà sư phạm vĩ đại J.Comenxki (1592-1670) đã đưa ra những yêu cầu cải tố nền giáo dục theo hướng phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của người học.
Theo ông, dạy học thế nào để người học thích thú học tập, nghiên cứu và có nhừng cố gắng bản thân để nắm lấy tri thức. Ông còn viết “Giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán đúng đắn, phát triển nhân cách. hày tìm ra phương pháp cho GV dạy ít hơn, HS học nhiều hơn’1 [31, tr. Polya (1945&1962) đã mô tả việc dạy học cần chú trọng vào giải quyết vấn đề là tìm cách giải quyết một khó khăn, xung quanh một chướng ngại vật và tìm ra giải pháp cho một vấn đề chưa biết.
Tác giả Phan Tất Đắc, người đầu tiên dịch và đưa phương pháp dạy học và giải quyết để phát triển phẩm chất và năng lực cho HS Việt Nam thông qua cuốn “Dạy học nêu vấn đề” (Lecne) (1977). Trong công cuộc đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp dạy học là yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học đặc biệt là nâng cao năng lực cho HS. Trong thế kỷ XX, John Dewey (1859-1952) là một nhà triết học, nhà tâm lí học đồng thời là nhà giáo dục vĩ đại của nước Mỹ, ông cho ràng: “Trường học không đơn thuần là nơi người lớn dạy cho trẻ các bài học kiến thức và bài học lý luận, trường học phải là một cộng đồng dân chủ trong đó mọi hoạt động được tập trung nhằm tạo ra hiệu quả nhất trong việc chia sẻ cho người học di sản tri trức của nhân loại và làm cho họ có 7 thế sử dụng tài năng của mình vào mục đích xã hội” [32]. Do đó, giáo dục là một hoạt động của đời sống, là bản thân quá trinh sống của trẻ chứ không phải là một sự chuẩn bị cho một cuộc sống tương lai mơ hồ nào đấy.
Nhà trường có nhiệm vụ tạo ra những điều kiện tốt nhất để cá nhân người học phát huy tối đa năng lực tiềm tàng của mình, tạo dựng kiến thức cho mình bằng bộ công cụ của chính mình như: đôi mắt, đôi tai, đôi tay, đôi chân và đặc biệt là tư duy (tư duy logic, tư duy sáng tạo và tư duy đột phá). Như vậy để người học có thể phát triển toàn diện mọi khả năng của mình đế tham gia vào đời sống xã hội thì nhà trường và GV phải tạo ra một môi trường trong đó những hoạt động của trẻ chứa đựng những tình huống khăn, có vấn đề để từ đó người học tự tìm tòi và xây dựng kiến thức thông qua kinh nghiệm, trải nghiệm và tư duy của chính bản thân minh. Trong cuốn sách “Phát huy tích cực của HS như thế nào”, I.Kharlamop đà khẳng định vai trò to lớn cùa tính tích cực, chủ động trong việc tiếp thu tri thức mới. Ông cho rằng “Quá trình nắm kiến thức mới không thể hình thành bằng cách học bình thường các quy tắc, các kết luận khái quát hóa mà nó phải được xây dựng trên cơ sở của việc cải tiến công tác tự lập của HS, của việc phân tích logic sâu sắc tài liệu, sự kiện làm nền tảng cho việc hành thành các khái niệm khoa học”.
Sự vận động không ngừng của đời sống xã hội tất yếu dẫn đến sự đổi mới trong mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục. HS là mục đích tồn tại của hoạt động giáo dục, HS phải liên tục được khuyến khích tham gia vào các hoạt động giáo dục của nhà trường, GV không phải là người “ban phát” kiến thức, không phải là một vị quan tòa mà là một thành viên trong cộng đồng lớp học, có nhiệm vụ là một tác nhân kích thích bàng việc cung cấp vật liệu, đầu mối, thông tin, gợi ý, tổ chức, hướng dẫn. để kích thích tư duy của người học, tức là GV có thể tạo một môi trường khuyến khích sự học tập, nghiên cứu. Muốn vậy, GV phải là một chuyên gia được đào tạo tốt, một người hiểu biết giáo dục toàn diện.
Nội dung giáo dục phải phản ánh sự phát triển theo sự phát triển của nhân loại, phải mang tính tăng tiến. Chương trình giáo dục phải phù hợp, hiện đại theo sự phát triển chung của loài người. Phương pháp dạy học cũng phải gắn chặt với đối tượng và nội dung, phương pháp là phương pháp của năng lực và hứng thú của trẻ em, của 8 cá nhân đang trưởng thành, chứ không phải là phương pháp của người lớn (những người đã trưởng thành), bởi vậy không thế tách rời phương pháp ra khởi nội dung, mục tiêu, chương trỉnh giáo dục. Các nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, các vấn đề có liên quan đến PPDH cũng rất được quan tâm, đặc biệt sau năm 1986, đây được coi là cái mốc của đổi mới tư duy.
Nhiều tác giả có các công trình nghiên cứu về vấn đề này như: Phạm Minh Hạc [14], Trần Bá Hoành, Trần Kiều, Nguyễn Kỳ, Nguyễn Hữu Chí, và một số các nhà giáo dục giàu kinh nghiệm cũng quan tâm đến vấn đề PPDH và phát triển lý luận dạy học chung vào thực tiễn dạy học ở Việt Nam như: Văn Như Cương, Tôn Thân. Tác giả Lê Hoàng Hà (2012) có nghiên cứu luận án tiến sĩ chuyên ngành giáo dục học tại Học viện quản lý giáo dục với tên đề tài “Quản lý dạy học theo quan điếm dạy học phân hoá ở trường TH Việt Nam hiện nay”. Từ nghiên cứu cơ sở lý luận và hạn chế thực trạng. Tác giả đã đề xuất các giải pháp như (1) Nâng cao nhận thức về DH theo quan điểm dạy học phân hóa cho mọi lực lượng sư phạm- xã hội; (2) Giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho tổ chuyên môn và GV; (3) Tổ chức cho GV cam kết chất lượng qua các hợp đồng; (4) Kiểm soát việc thực hiện cam kết chất lượng; và (5) Tạo điều kiện hỗ trợ cho dạy học theo quan điểm DHPH.
Cùng thời điểm năm 2012, tác giả Phạm Quốc Khánh đã thực hiện đề tài “Quản lí hoạt hoạt động dạy học theo hướng phân hóa ở Trường TH Chu Vàn An, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên”, chuyên ngành Quản lý giáo dục tại trường Đại học sư phạm, Đại học Thái Nguyên. Từ nghiên cứu cơ sở lý luận và hạn chế thực trạng, tác giả đã đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lí hoạt hoạt động dạy học theo hướng phân hóa ở Trường TH Chu Văn An, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên như: Nâng cao bàn lĩnh chính trị, trách nhiệm, giá trị, truyền thống của nhà trường trong GV và HS; Biện pháp xây dựng và quản lí đội ngũ GV; Biện pháp quản lí các hoạt động dạy của GV; Biện pháp quản lí hoạt động học cùa HS; Biện pháp tạo động lực cho hoạt động dạy học; Biện pháp quản lí về cơ sở vật chất. Hầu hết các công trinh nghiên cứu đều khẳng định vai trò của HĐ xây dựng 9 kê hoạch bài dạy có một ý nghĩa và vai trò rât quan trọng đôi với hoạt động dạy học, là nhân tố trọng yếu nâng cao chất lượng dạy và học. Như vậy, lỷ luận quản lý HĐDH đến nay đã được các nhà GD trong và ngoài nước nghiên cứu với nhiều góc độ khác nhau, tập trung vào vấn đề cải tiến PPDH nhằm nâng cao năng lực người học.
Tuy nhiên, ở một cơ sở giáo dục cụ thể, một địa phương cụ thế và trong bối cảnh cụ thể, ngoài những điểm chung còn mang tính đặc thù riêng cần phải có những biện pháp cụ thề, riêng và áp dụng các biện pháp một cách linh hoạt, hài hòa thì việc quản lý các hoạt động dạy học mới đạt hiệu quả cao. Huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh chưa có một công trình nghiên cứu về quản lí hoạt động xây dựng kế hoạch bài dạy theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực ở các trường TH huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Từ việc tổng hợp các công trình nghiên cứu ở trên, góp phần quan trọng gợi mở cho tôi nghiên cứu đề tài “Quản ỉỷ xây dựng kế hoạch bài dạy cho giáo viên ở các trường TH huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học” làm đề tài nghiên cứu. Một số khái niệm 1.
Quản lý Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý, tùy theo cách tiếp cận mà khái niệm quản lý đã được các nhà nghiên cứu định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Nhưng có thể khẳng định Quản lý là hoạt động gắn liền với sự tồn tại và phát triển của xà hội loài người, là quá trình lựa chọn những tác động lên khách thể quản lý nhằm đảm bảo cho một hoạt động chung nào đó có kết quả mong muốn. Chủ thề quản lý cần biết sắp xếp và thế hiện họp lý các tác động lên đối tượng bị quản lý sao cho đảm bảo sự cân đối cả hai mặt ổn định và phát triển bộ máy. - Theo Hoàng Phê (2012) Quản lý là tổ chức, điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định.
- Tác giả Trần Kiểm định nghĩa: “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong suốt quá trinh lao động.Knoontz (2008) định nghĩa: “ Quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó con người cùng làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các mục tiêu.