CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ THEO HƯỚNG TRẢI NGHIỆM CHO HSTH 1. Giáo dục môi trường 1. Môi trường Thuật ngữ “môi trường” trong những năm gần đây đã được sử dụng rộng rãi trong sách vở, tài liệu nghiên cứu và thông tin đại chúng trên thế giới, nhưng nội dung của khái niệm đó trong nhiều tài liệu không hoàn toàn thống nhất. Hiểu theo nghĩa rộng nhất thì MT bao gồm tất cả những gì có ở xung quanh một đối tượng, mà người ta nói tới và có những mối quan hệ nhất định với nó.
Nếu đối tượng đó là một cơ thể sinh vật thì MT là tất cả những gì trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng tới sự sinh trưởng, sự phát triển và tồn tại của cơ thể đó. MT đó đồng nghĩa với MT sống hay MT tự nhiên ở xung quanh cơ thể sinh vật. Con người cũng là một sinh vật, nhưng là một sinh vật đặc biệt. Do biết chế tạo và sử dụng công cụ lao động, con người không những thoát khỏi sự lệ thuộc vào các quy luật sinh học, vào MT, mà còn tác động trở lại MT một cách mạnh mẽ.
Vì thế, khái niệm MT của con người cũng mang theo những đặc điểm xã hội của nó. Các nhà địa lí học, tiêu biểu là X.V Kalexnic đã gọi bộ phận tự nhiên bao quanh con người bị thay đổi bởi con người ở mức độ này hay mức độ khác. là MT địa lí. MT địa lí như vậy bao gồm tất cả các thành phần tự nhiên đã chịu tác động của con người.V Sautskin cũng cho rằng: trong giai đoạn hiện nay của sự phát triển xã hội và tuần hoàn vật chất của xã hội với tự nhiên, định nghĩa MT chỉ bao gồm những thành phần tự nhiên đã trở nên hẹp, vì rằng “Ngày nay không còn một bộ phận nào của bề mặt trái đất, diện tích nào của đại dương thế giới, tầng lớp nào của khí quyển 8 mà lại không chịu tác động này của các sản phẩm công nghiệp hiện đại”.
Con người hiện nay không chỉ sống trong một loại MT mà là trong hai loại MT có quan hệ qua lại với nhau. Loại MT thứ nhất là MT địa lí, đã chịu tác động của con người. Loại MT thứ hai, hoàn toàn do con người với trình độ kĩ thuật của mình tạo nên như: thành phố, công trường, xưởng máy. Từ đó, trong địa lí học còn có thêm một khái niệm mới nữa là “MT nhân tạo”.
Giữa hai loại “MT tự nhiên” và “MT nhân tạo” có sự khác nhau về mặt nguồn gốc phát sinh và phát triển. MT tự nhiên xuất hiện trên bề mặt trái đất không phụ thuộc vào con người. Nếu con người ngừng tác động, nó sẽ tiếp tục tự phát triển theo quy luật của nó. Ngược lại, sự xuất hiện của MT nhân tạo hoàn toàn phụ thuộc vào sức lao động của con người.
Chúng sẽ tự hủy nếu không có sự tác động của con người. Năm 1981 UNESCO đã đưa ra khái niệm về MT như sau: “Là toàn bộ các hệ thống tự nhiên và hệ thống do con người tạo ra ở xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động, đã khai thác những tài nguyên tự nhiên hoặc nhân tạo cho phép thỏa mãn những nhu cầu của con người” [7]. Khái niệm về MT tương đối rõ ràng và đầy đủ được đề cập trong “Luật BVMT” của nước ta được ban hành năm 1994: “MT bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên". Như vậy, đối với con người, MT không chỉ là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển cho một thực thể sinh vật là con người: mà còn là “khung cảnh của lao động, của sự sống và sự nghỉ ngơi của con người”.
Nó là một thể thống nhất bao gồm nhiều đối tượng và hiện tượng tự nhiên: Đất đai, địa hình, khí hậu, nước, động thực vật, các khu dân cư, khu sản xuất, khu bảo vệ thiên nhiên, phong cảnh, các công trình lịch sử. Gần đây, khái niệm MT được mở rộng. Đó là khái niệm: "MT và phát triển bền vững". Khái niệm này muốn nhấn mạnh đến việc giải quyết mâu 9 thuẫn giữa sự tiếp tục phát triển kinh tế - xã hội mà không làm tổn hại đến MT sống của con người, sao cho đạt tới sự hài hòa lâu đời, bền vững giữa sự phát triển sản xuất và BVMT.
Giáo dục môi trường Có rất nhiều khái niệm về GDMT như “GDMT là quá trình nhận ra các giá trị và làm sáng tỏ các quan điểm để phát triển các kĩ năng và thái độ cần thiết, nhằm hiểu và đánh giá đúng đắn mối tương quan giữa con người, MT văn hóa và MT bao quanh. GDMT cũng đòi hỏi thực hành trong việc đưa ra quyết định và tự xây dựng quy tắc hành vi về các vấn đề liên quan đến chất lượng MT” (Ủy ban giáo dục của IUCN). Hội nghị quốc tế về GDMT ở trường học – Pari, UNESCO, 1970). Trong báo cáo của hội nghị GDMT ở Tbilisi, 1977 cho rằng “GDMT là một bộ phận hữu cơ của quá trình giáo dục.
Nó nên được tập trung vào những vấn đề thực tiễn và mang tính chất liên thông. Nó nên nhằm vào xây dựng giá trị, đóng góp và sự nghiệp phồn vinh của cộng đồng và liên quan đến sự sống còn của nhân loại. Ảnh hưởng của nó nên ở thời gian khởi đầu của người học và liên quan đến MT sống của họ trong hoạt động. Nó nên được hướng dẫn ở cả các môn học hiện tại và tương lai có liên quan”.
Tuy nhiên trong khuôn khổ của việc GDMT thông qua môn Địa lí ở nhà trường có thể hiểu: GDMT là một quá trình nhằm phát triển ở người học sự hiểu biết và quan tâm trước những vấn đề MT, bao gồm: kiến thức, thái độ, hành vi, trách nhiệm và kĩ năng để tự mình và cùng tập thể đưa ra các giải pháp nhằm giải quyết vấn đề MT trước mắt cũng như lâu dài (Bộ GD&ĐT/UNDP, 1998). Sự cần thiết phải bảo vệ môi trường Trong khi sinh sống, lao động và tiến hành các hoạt động của mình trong xã hội, con người vốn có nhiều mối quan hệ mật thiết với MT. Các mối quan hệ đó không ngừng phát triển và biến đổi qua các thời đại. Tuy nhiên, những sự thay đổi đặc biệt lớn lao do con người tác động vào 10 thiên nhiên đều gắn liền với cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật.
Sự phát triển công nghiệp đòi hỏi phải đưa vào chu trình sản xuất những nguồn tài nguyên mới. Quy mô sử dụng đất đai, rừng, thực vật, động vật, các nguồn khoáng sản và nguồn nước cũng tăng lên. Sự bùng nổ về dân số trong những năm gần đây đã kéo theo sự bùng nổ về nhu cầu lương thực, thực phẩm, nguyên liệu, năng lượng, không gian sản xuất, cư trú, tiện nghi sinh hoạt. Tất cả những cái đó đều dẫn đến việc khai thác một cách gia tốc các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho các ngành kinh tế.
Chất lượng MT sống do đó bị suy thoái. Việc thải các chất khí SO2, CO2, CFO đã gây nên sự biến đổi khí hậu của trái đất, làm thành tầng ôzôn ở Bắc và Nam cực. Vấn đề suy thoái MT hiện nay đã diễn ra trên quy mô hành tinh. Nếu như ở các nước công nghiệp phát triển sự suy thoái MT chủ yếu do các chất thải công nghiệp làm ô nhiễm các nguồn nước, bầu không khí.
thì sự suy thoái MT ở các nước đang phát triển lại do sự tăng nhanh dân số, sự khai thác các tài nguyên không hợp lí nhằm phục vụ cho các nhu cầu trước mắt của mình. Đứng trước tình hình đó, nhiều nhà khoa học, nhiều tổ chức quốc tế trên thế giới đã nhất trí nêu lên sự cần thiết phải có những biện pháp bảo vệ MT sống trên thế giới. Tolba, giám đốc chương trình MT liên hiệp quốc (UNICEP) đã ra lời kêu gọi: “Hỡi các quốc gia trên thế giới. Chỉ có hai con đường để lựa chọn: một là tình trạng như hiện nay vẫn tái diễn để đi đến sự sụp đổ về MT một cách nặng nề và không đảo ngược được, đến mức không có một cuộc chiến tranh nguyên tử nào sánh nổi, hai là phải bắt đầu ngay lập tức việc hợp tác với nhau một cách thiện ý trong việc sử dụng và quản lí nguồn tài nguyên thiên nhiên”.
Đất nước ta cũng đang đứng trước tình trạng suy thoái về MT. Một số nguồn tài nguyên thiên nhiên có nguy cơ bị cạn kiệt, hiện tượng ô nhiễm đã có nhiều biểu hiện. Trong MT tự nhiên, nguồn tài nguyên động, thực vật bị phá hủy nghiêm trọng nhất trong vòng năm mươi năm trở lại đây. Hiện tại, diện tích đất phủ 11 rừng của nước ta chỉ còn trên dưới 28% tổng diện tích tự nhiên.
Đây là một tỉ lệ báo động về mặt sinh thái đối với một nước nhiệt đới như nước ta. Mức mất rừng hiện tại được đánh giá khoảng 200.000 ha/ năm, chủ yếu do chặt phá làm nông nghiệp, khai thác gỗ và làm củi đốt. Theo thống kê: “Hiện trạng sử dụng đất năm 1990”, tổng số qũy đất của nước ta là 33 triệu ha, trong đó, cả nước có khoảng 15 triệu ha đất chưa được sử dụng (1990), tập trung chủ yếu ở vùng đồi núi (đất trống, đồi trọc chiếm khoảng 11,3 triệu ha). Nguyên nhân chính là do quá trình khai thác rừng không hợp lí (dưới nhiều hình thức) đã dẫn đến sự xói mòn đất.
Các dòng chảy đã mang ra biển hàng năm khoảng 200 - 250 triệu tấn cát bùn. Ở vùng đồng bằng, sự thoái hóa đất là do nguyên nhân bị nhiễm mặn, nhiễm phèn, sử dụng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu chưa hợp lí. Về tài nguyên nước: Mặc dù lượng nước được sử dụng so với tự nhiên chưa nhiều, nhưng hiện tượng nguồn nước bị nhiễm bẩn cục bộ đã xảy ra. Điều đó đã gây cho chúng ta nhiều khó khăn trong việc giải quyết vấn đề nước, vốn đã phức tạp trong điều kiện nước ta như: nạn úng lụt, khô hạn, hoặc nước bị nhiễm chua, ngấm mặn.
Nền công nghiệp nước ta tuy chưa phát triển nhưng cũng đã thải ra sông, hồ một lượng nước bẩn đáng kể chưa được xử lí. Thành phố Hà Nội hàng ngày thải vào MT 300.000m3 nước thải, hàng năm thải ra khoảng 3600 tấn chất hữu cơ, 317 tấn dầu mỡ, hàng chục tấn kim loại nặng, dung môi và các chất độc hại khác.