Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường Tiểu học. - Chương 2: Thực trạng quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường Tiểu học huyện Sa Thầy tỉnh Kon Tum. - Chương 3: Biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường Tiểu học trên địa bàn huyện Sa Thầy tỉnh Kon Tum trong giai đoạn hiện nay. 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC Ở TRƢỜNG TIỂU HỌC 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu nước ngoài Nghiên cứu của Wai Chung Ho (2004) đã chỉ ra rằng, khi việc ứng dụng CNTT được GV xây dựng kế hoạch cụ thể, được tích hợp vào các giờ học sẽ góp phần nâng cao hiệu quả chất lượng học tập của học sinh [42]. Demir (2006) đã tiến hành tìm hiểu nhận thức của hiệu trưởng về hệ thống thông tin quản lý và cách quản lý hệ thống thông tin được sử dụng trong trường tiểu học ở Edime, Thổ Nhĩ Kỳ. Kết quả chỉ ra rằng, mặc dù cơ sở hạ tầng công nghệ của các trường tiểu học còn thiếu thốn, nhưng hệ thống thông tin quản lý trường học đã góp phần quan trọng vào công tác quản lý trường học, đặc biệt là hoạt động dạy học [30].
Nghiên cứu này cũng đồng hướng và quan điểm với nghiên cứu của nhóm tác giả Muhammad (2018) [37]. Eric Chang và cộng sự (2012) trong nghiên cứu của mình đã điều tra các mối quan hệ giữa khả năng lãnh đạo công nghệ của hiệu trưởng, trình độ công nghệ của giáo viên và hiệu quả giảng dạy. Đối tượng khảo sát bao gồm 1.000 giáo viên được chọn ngẫu nhiên từ các trường tiểu học của Đài Loan. Cuộc khảo sát giáo viên nhằm đo lường hiệu quả của khả năng lãnh đạo công nghệ của hiệu trưởng, trình độ công nghệ của giáo viên và hiệu quả giảng dạy.
Ngoài ra, dữ liệu được phân tích bằng cách sử dụng mô hình phương trình cấu trúc để kiểm tra mối quan hệ giữa các đại lượng này. Các phát hiện cho thấy, khả năng lãnh đạo công nghệ của hiệu trưởng cải thiện trình độ công nghệ của giáo viên và trực tiếp khuyến khích giáo viên tích hợp công nghệ vào giảng dạy của họ. Hơn nữa, trình độ công nghệ của giáo viên ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả giảng dạy của họ. Khả năng lãnh đạo công nghệ của hiệu trưởng cũng làm cho trình độ CNTT của giáo viên hiệu quả hơn [32].
Trong khi đó nghiên cứu của Oralbekova và các cộng sự (2016) của mình lại tập trung nghiên cứu vấn đề ứng dụng CNTT trong dạy học hòa nhập cho học sinh khuyết tật tại trường tiểu học. Các tác giả cho rằng, nhiều giáo viên tiểu học chưa được đào tạo đầy đủ để sử dụng công nghệ thông tin để giảng dạy học sinh khuyết tật hòa nhập. Do đó, để giải quyết vấn đề này, nhóm tác giả đã xây dựng một khóa đào tạo đặc biệt dành cho sinh viên các cơ sở giáo dục đại học, cung cấp cơ sở lý luận và phương pháp luận chi tiết về giáo dục hòa nhập, các phương pháp sử dụng CNTT trong giảng dạy các bài học khác nhau cho trẻ em tiểu học trong bối cảnh hòa nhập [38]. Nghiên cứu của Mona (2017) cũng nhấn mạnh rằng, các giáo viên tiểu học phải đối mặt với những thách thức trong bối cảnh kỹ thuật số.
Do sự bùng nổ và phát triển 5 nhanh chóng của các công nghệ thông tin có thể được sử dụng trong giáo dục, ngày càng có nhiều nhu cầu về việc áp dụng công nghệ trong giáo dục, nhằm tác động đến học sinh học tập tích cực và thúc đẩy họ đạt được quá trình học tập hiệu quả. Ứng dụng thực tế tăng cường cho thấy tiềm năng tốt trong việc mang lại cho học sinh quá trình học tập tích cực, hiệu quả và có ý nghĩa hơn. Mặt khác, nghiên cứu xem xét những lợi ích chính của việc sử dụng ứng dụng thực tế tăng cường trong giáo dục. Đồng thời, tác giả của kiểm chứng sự chấp nhận của GV đối với các ứng dụng thực tế tăng cường trong môi trường học tập công nghệ ở các trường tiểu học, từ quan điểm của giáo viên, như một thử nghiệm ban đầu.
Mặt khhác, nghiên cứu cũng chỉ ra những rào cản và lợi ích chính khi áp dụng công nghệ thông tin trong dạy học [36]. Trong nghiên cứu của mình Sunaengsih và các cộng sự (2019) đã khẳng định vai trò của CNTT trong việc quản lý trường tiểu học. Các tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả với phương pháp tiếp cận định lượng để khám phá thực tế của các yếu tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận công nghệ thông tin trong quản lý các trường tiểu học ở Indonesia. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các trường học sẵn sàng chấp nhận CNTT trong quản lý nếu được cập nhật [41].
Maria và cộng sự (2020) cũng đã tiến hành nghiên cứu với các học sinh tiểu học lớp 4, những học sinh này được chia thành hai nhóm (thực nghiệm và đối chứng) về việc ứng dụng CNTT trong dạy học hình học. Học sinh trong cả hai nhóm đã được kiểm tra trước và kiểm tra sau về thành tích của họ trong môn hình học. Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng dạy và học thông qua CNTT là một quá trình tương tác đối với học sinh tiểu học và có tác dụng tích cực trong việc học hình học so với phương pháp dạy học truyền thống [35]. Marthese (2020) và cộng sự đã tiến hành tổng quan các tài liệu về sự ảnh hưởng của các yếu tố đến việc sử dụng công nghệ số của GV tiểu học.
Theo các tác giả, công nghệ số được phổ biến rộng rãi trong trường học; tuy nhiên, kết quả từ các nghiên cứu quốc tế chỉ ra rằng chúng không hiệu quả đối với thành tích học tập của học sinh. Tuy nhiên, giáo viên cần được đào tạo và hướng dẫn để phát triển chuyên môn của họ khi sử dụng công nghệ để dạy học. Nếu không làm như vậy có thể dẫn đến việc học sinh thiếu các kỹ năng ứng phó cần thiết cho cuộc sống tương lai của các em trong thời đại thông tin. Nghiên cứu nhằm mục đích tìm hiểu những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc giáo viên tiểu học sử dụng công nghệ kỹ thuật số trong thực hành giảng dạy của họ, từ đó đề xuất hình thức đào tạo tốt hơn nhằm sử dụng công nghệ phù hợp hơn trong giáo dục của GV.
Sau khi áp dụng bản đồ khái niệm vào dữ liệu từ các nghiên cứu đã chọn, bốn yếu tố ảnh hưởng đã được xác định, bao gồm: kiến thức, thái độ và kỹ năng của giáo viên, văn hóa trường học. Từ những phát hiện này, nhóm nghiên cứu đã đề xuất các khuyến nghị về đào tạo giáo viên với công nghệ số [34]. Bàn về ưu điểm của CNTT trong việc dạy học tiếng Nga cho học sinh tiểu học, Darvanova (2022) đã chỉ ra rằng, việc sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông 6 hiện đại ở các lớp tiểu học giúp học sinh suy nghĩ độc lập, mở rộng khả năng nghiên cứu sáng tạo và tư duy logic, cũng như kết nối những gì học trên lớp với cuộc sống và tăng hứng thú với bài học. Chất lượng của quá trình giáo dục được bảo đảm bằng việc giáo viên sử dụng có hiệu quả các điều kiện cơ sở hạ tầng và tổ chức dạy học trên cơ sở sư phạm và công nghệ thông tin và truyền thông tiên tiến [31].
Các nghiên cứu trong nước Nghiên cứu về ứng dụng CNTT và quản lý ứng dụng CNTT ở trường phổ thông nói chung và ở trường tiểu học nói riêng được các nhà nghiên cứu trong nước quan tâm, chú ý. Có thể kể đến các công trình tiêu biểu dưới đây. Trong nghiên cứu của mình, Trần Minh Hùng (2013) đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc bồi dưỡng, nâng cao trình độ ứng dụng CNTT cho đội ngũ GV trường trung học phổ thông. Theo tác giả, với tư cách là người chịu trách nhiệm chính trong việc nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT trong dạy học của GV, hiệu trưởng nhà trường phải coi việc bồi dưỡng nâng cao trình độ ứng dụng CNTT cho GV là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác quản lý nhà trường, tạo điều kiện thuận lợi giúp họ chủ động, tự tin ứng dụng CNTT nhằm đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng giảng dạy.
Để thực hiện tốt yêu cầu xây dựng đội ngũ GV có trình độ về CNTT, theo tác giả, hiệu trưởng cần tiến hành các nhiệm vụ sau: xây dựng kế hoạch bồi dưỡng nâng cao trình độ ứng dụng CNTT; tổ chức bồi dưỡng tại trường theo các hình thức khác nhau; tạo điều kiện và cử GV tham gia các khóa bồi dưỡng về ứng dụng CNTT do các cấp ngành tổ chức; triển khai, phổ biến nội dung các buổi hội thảo, tập huấn về ứng dụng CNTT để đổi mới PPDH ở từng bộ môn; chỉ đạo, định hướng việc tự bồi dưỡng, tự nghiên cứu để cập nhật kiến thức, nâng cao trình độ về CNTT; xây dựng các yêu cầu và chế độ chính sách ưu tiên cho GV trong việc nang cao trình độ ứng dụng CNTT [9]. Tuy nhiên, nghiên cứu này với phạm vi ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường trung học phổ thông, song cũng có ý nghĩa nhất định để tác giả luận văn xem xét các khía cạnh của biện pháp quản lý hoạt động này trên địa bàn nghiên cứu. Luận văn Thạc sĩ của Đỗ Đức Minh (2016) đã tiến hành phân tích thực trạng quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy học tại các tr ờng tiểu học thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Đồng thời, tác giả cũng đề xuất một số biện pháp quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy học tại các tr ờng tiểu học tại địa bàn nghiên cứu như: nâng cao nhận thức cho CB-GV về tầm quan trọng, lợi ích của việc ứng dụng CNTT trong dạy học; tổ chức, bồi dưỡng cho GV về ứng dụng CNTT trong dạy học; chỉ đạo tăng cường việc ứng dụng các phần mềm giáo dục trong quản lý dạy học theo hướng tích hợp, khai thác và sử dụng có hiệu quả các ứng dụng trên mạng và Internet; chỉ đạo quy trình thiết kế và sử dụng giáo án dạy học tích cực có ứng dụng CNTT; quản lí hạ tầng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học hiện đại, xây dựng phòng học đa phương tiện; ban hành các quy định bằng văn bản cho việc ứng dụng CNTT trong dạy học [15].