Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Trong thời đại số hoá, không thể phủ nhận rằng CNTT có vai trò quan trọng trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau. Một trong những lĩnh vực đó chính là giáo dục.
Các tranh luận về vai trò của công nghệ trong giáo dục đã được thể hiện rất rõ bởi các nghiên cứu như ‘The Evolution of American Educational Technology’ của Paul Saettler [45] hay ‘The Evolution of Learning Technologies’ của tác giả Saga Briggs [39]. Trong các nghiên cứu này, các tác giả đã cung cấp cơ sở để phân tích lịch sử và giải thích các khía cạnh đa dạng của công nghệ trong giáo dục như các khái niệm hoặc cơ sở lý thuyết và phương pháp luận của công nghệ trong giáo dục. Trong những thập kỷ qua, đã có rất nhiều các nghiên cứu khác nhau chỉ ra các tác động của CNTT một cách tích cực đến các bên liên quan. Thứ nhất, việc tích hợp công nghệ vào giáo dục sẽ hỗ trợ người dạy đáp ứng được xu hướng toàn cầu hoá nhằm thay thế các phương pháp giảng dạy truyền thống bằng các công cụ và phương tiện dạy và học dựa trên công nghệ.
Một ví dụ cho việc này có thể kể đến trường hợp của Malaysia. Tại quốc gia này, CNTT được coi là một trong những yếu tố chính trong việc chuyển đổi đất nước để phát triển trong tương lai. Bộ Giáo dục Malaysia cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc dạy và học dựa trên công nghệ trong chương trình giảng dạy quốc gia của các trường học thông qua bản in mới nhất của Education Blue (2013-2025) [41]. Thứ hai, theo nghiên cứu của tác giả Macho trong tác phẩm ‘Differences Among Standardized Test Scores Due to Factors of Internet Access at Home and Family Affluence’ cho thấy việc dạy và học dựa trên công nghệ hiệu quả hơn so với lớp học truyền thống.
Điều này là do việc sử dụng các công cụ và thiết bị CNTT sẽ chuẩn bị một môi trường học tập tích cực, thú vị và hiệu quả hơn cho cả giáo viên và học sinh [43]. Cuối cùng, ứng dụng CNTT trong giáo dục còn có vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ người học. Tác giả Dilmaghani đã chỉ ra trong tác phẩm ‘Information technology in educational programs of the countries, The monthly growth of educational technology’ rằng các em có thể sử dụng CNTT như một công cụ cho các hoạt động giáo dục của mình để nâng cao tốc độ và chất lượng học tập một cách đáng kể [40]. Một trong những ví dụ điển hình khác về vai trò của CNTT trong giáo dục đó chính là mô hình Trường học thông minh [38].
Trong tác phẩm ‘Information 7 technology and training’ của tác giả Ataran, mô hình này đã tạo ra một bước nhảy vọt trong học tập ảo. Từ đây, học trực tuyến và đào tạo từ xa là một trong những hình thức giáo dục mới trong thế kỷ mới. Mặc dù các nghiên cứu hầu như đều thống nhất rằng CNTT đóng một vai trò rất tích cực trong giáo dục, các khó khăn vẫn tồn tại. Một trong những khó khăn đó là việc làm sao để áp dụng công nghệ vào trong lĩnh vực giáo dục một cách hiệu quả đối với các nước đang phát triển.
Cần nhìn nhận rằng với sự hiểu biết ngày càng cao và sự tiến bộ công nghệ của xã hội, một quốc gia cần một chất lượng giáo dục tốt để có thể bắt kịp với sự phát triển của khoa học và công nghệ. Sự nghiệp giáo dục trong thế kỷ XXI được xem là tiền đề để từ đó nảy sinh mọi thay đổi và phát triển. Tuy nhiên, vì quá người, nên hệ thống giáo dục nói chung chắc chắn cũng có xu hướng thay đổi để phù hợp với sự phát triển tương ứng. Vậy câu hỏi đặt ra là cần áp dụng những chiến lược nào để hệ thống giáo dục ở các nước đang phát triển không chỉ đơn thuần là đi theo các nước phát triển mà còn phát triển và tiến bộ dựa trên nhu cầu của chính họ trong lộ trình phát triển CNTT trong giáo dục.
Trong nghiên cứu ‘Information Technology in Education’, tác giả Farideh Hamidi và các đồng tác giả đã chỉ ra rằng một phần lớn các ngân sách của chính phủ được sử dụng để mua các loại công nghệ mới nhất mà không tính đến việc sử dụng các công nghệ đó một cách hiệu quả nhất [42]. Do đó, các nước đang phát triển nên cố gắng lập cơ sở hạ tầng cần thiết và kiểm soát một cách hiệu quả hơn các cơ sở vật chất hiện có. Nghiên cứu ở trong nước Trên cơ sở quan điểm của Ủy ban quốc tế UNESCO về việc nghiên cứu các vấn đề về truyền thông, một trong những vai trò của truyền thông và công nghệ thông tin trong vấn đề giáo dục là chuyển giao thông tin cần thiết cho sự phát triển, hình thành và phát triển nhân cách. Đồng thời, hỗ trợ người học các kỹ năng để nhìn nhận và hiểu biết các vấn đề xã hội [46].
Trên cơ sở này, Việt Nam hiện nay đang có những sự phát triển nhất định trong việc áp dụng CNTT vào lĩnh vực giáo dục. Đây cũng là vấn đề được rất nhiều các nhà nghiên cứu trong nước nghiên cứu. Một vài công trình tiêu biểu có thể kể đến như sau: BS VB ông nghiên cứu ‘Vài nét về ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi mới giáo dục tại Singapore’ của tác giả Phạm Đức Quang và đồng tác giả, Singapore – với vai trò là một đất nước trong cùng khu vực Đông Nam Á đã được lấy làm ví dụ về việc áp dụng và phát triển CNTT trong sự khai sáng giáo dục. Thông qua các kinh nghiệm của Singapore, tác giả đã đưa ra được một vài kinh nghiệm cho Việt Nam khi áp dụng CNTT trong lĩnh vực giáo dục trong thời đại số.
Theo quan điểm của các tác giả trong bài viết này, Nhà nước có vai 8 trò rất lớn trong việc hỗ trợ và thúc đẩy việc áp dụng CNTT vào trong lĩnh vực giáo dục [33]. Nghiên cứu ‘Ứng dụng Công nghệ thông tin trong giáo dục Việt Nam: Từ chính sách tới thực tế’ của tác giả Jef Peeraer và Trần Nữ Mai Thy đã chỉ ra rằng, xu hướng áp dụng CNTT trong giáo dục là một xu hướng tất yếu trong thời đại số hoá. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, các cơ sở đào tạo giáo dục các trường hiện vẫn phải đối mặt với việc các nguồn lực CNTT còn hạn chế. Bên cạnh đó, thông qua sự nghiên cứu về tầm nhìn tại các cơ sở đào tạo giáo dục nhất định cho thấy đằng sau các phương pháp tiếp cận ứng dụng CNTT trong giáo dục có rất nhiều cơ sở lý luận đa chiều, chung chung và quá rộng.
Ví dụ như việc hướng dẫn về thực hành CNTT còn quá chung và dẫn đến sự bối rối của người dạy trong việc áp dụng CNTT vào dạy học [31]. Trong những năm qua, càng ngày CNTT càng thể hiện rõ vai trò quan trọng của mình trong việc phát triển giáo dục tại Việt Nam. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vai trò của CNTT nói chung và trong từng môn học nói riêng. Cụ thể, bài viết ‘Vai trò của việc ứng dụng công nghệ trong dạy và học đại học hiện nay’ của tác giả Nguyễn Thị Bích Nguyệt đã chỉ ra vai trò của ứng dụng CNTT trong việc dạy và học đối với các bên liên quan bao gồm: người dạy, người học, và đối với xã hội.
Từ đó, tác giả khẳng định rằng nền tảng để tạo ra được nguồn nhân lực chất lượng cao, góp phần cho sự phát triển của đất nước có sự đóng góp rất quan trọng của việc ứng dụng công nghệ trong giảng dạy và học tập [30]. Ứng dụng CNTT trong giảng dạy cũng đã được nghiên cứu và thực hành ở một số môn cụ thể. Ví dụ, trong bài viết ‘Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học vật lí ở trường tiểu học của tác giả Nguyễn Thị Đại, tác giả đã đề xuất năm giải pháp ứng dụng CNTT trong dạy học vật lí dưới góc nhìn của một giáo viên trực tiếp dạy học nhằm mục tiêu phát triển các kỹ năng của công dân toàn cầu bao gồm (i) Tổ chức dạy học dự án trong đó học sinh ứng dụng công nghệ thông tin để xây dựng các sản phẩm; (ii) Sử dụng nền tảng web 2.0 tạo ra môi trường hợp tác trong học tập; (iii) Khai thác các sản phẩm phần mềm hỗ trợ quá trình nhận thức của học sinh; (iv) Sử dụng công cụ tìm kiếm để khai thác nguồn tài nguyên trên internet; và (v) Sử dụng công nghệ thông tin để hỗ trợ các hoạt động chuyên môn của giáo viên [1]. Ngoài ra, không thể kể đến các thành quả mà việc ứng dụng CNTT mang lại trong việc giảng dạy nói chung.
Cụ thể, nghiên cứu ‘Ứng dụng công nghệ thông tin nhằm tăng hứng thú trong giờ học tiếng Anh’ của tác giả Đào Thị Tâm đã giới thiệu một số ứng dụng CNTT tương thích và đem lại hiệu quả, tính sáng tạo, kích thích hứng thú của người học trong các giờ học tiếng Anh như sau (i) Audio, (ii) Video; (iii) 9 Skype; hoặc (iv) Kahoot. Bài viết đã đóng góp ý nghĩa nhất định trong việc giới thiệu các ứng dụng có thể sử dụng trong các môn học nói chung để cải thiện chất lượng dạy và học [35]. Bên cạnh các bài báo chuyên ngành, đề tài ứng dụng CNTT còn là một trong những nội dung được quan tâm khi nghiên cứu các luận văn hoặc luận án trong lĩnh vực giáo dục. Trong luận án nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Lệ Hằng về ‘Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở các trường tiểu học thành phố Hà Nội đáp ứng nhu cầu đổi mới giáo dục hiện nay’, tác giả đã xây dựng khung lý thuyết về về ứng dụng CNTT và quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học các trường tiểu học như: Các khung lý thuyết bao gồm (i) Xây dựng các khái niệm cơ bản liên quan đến việc ứng dụng CNTT trong giáo dục; (ii) Đưa ra các nội dung cơ bản của ứng dụng CNTT trong dạy học các trường tiểu học; và (iii) Chỉ ra các yếu tố tác động đến quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Luận án đã đưa ra được các biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường tiểu học nói chung và tại quận Thanh Khê nói riêng [16].