phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và phụ lục, luận văn có 3 chƣơng: Chƣơng I: Cơ sở lý luận về quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học ở trƣờng Tiểu học. 4 Chƣơng II: Thực trạng về quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học ở các trƣờng tiểu học huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc. Chƣơng III: Các biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học ở các trƣờng tiểu học huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc. 5 CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CNTT TRONG HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƢỜNG TIỂU HỌC 1.
Tổng quan về vấn đề nghiên cứu. Tại một số nƣớc phát triển trên thế giới, ngƣời ta đã sớm chú trọng tới việc ứng dụng CNTT bằng việc xây dựng những chƣơng trình quốc gia về CNTT nhằm ứng dụng nó vào mọi mặt của đời sống xã hội trong đó có giáo dục và đào tạo. Những thành tựu phát triển kinh tế đạt đƣợc hiện nay có phần đóng góp hết sức to lớn của chƣơng trình quốc gia này. Có thể thấy ở một số quốc gia điển hình nhƣ sau: - Tại Mỹ và các nƣớc Châu Âu, những nghiên cứu quản lý ứng dụng CNTT trong giáo dục không còn là vấn đề mới mẻ.
Chính vì vậy, ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục đã đƣợc sự ủng hộ của chính phủ thông qua các chính sách trợ giúp ngay từ cuối những thập niên 90 của thế kỳ XX. - Tại Anh quốc: + Cấp tiểu học trung bình đƣợc đầu tƣ 198 máy tính PC và 53 máy tính xách tay/ đơn vị trƣờng. + Tỷ lệ nối mạng ở tiểu học là 96%, trung học cơ sở là 99,8% + CNTT đƣợc ứng dụng trong tất các các môn học; không dạy học sinh phổ thông lập trình phần mềm - đây là công việc của các chuyên gia hoặc trƣờng Trung học chuyên nghiệp. + Máy chiếu có ở mọi phòng học.
+ Các trƣờng phổ thông kể cả tiểu học đều có phòng đa phƣơng tiện. (Multimedia) - Tại Nhật Bản: 6 “Kế hoạch về một xã hội thông tin, mục tiêu quốc gia tới năm 2000” đã đƣợc Chính phủ Nhật Bản công bố từ năm 1972. - Tại Hàn Quốc: Xác định mục tiêu chiến lƣợc của chính sách đẩy mạnh tin học hóa là xây dựng một xã hội thông tin phát triển vào năm 2000. - Tại Singapo: Năm 1981, chính phủ Singapo thông qua đạo luật về tin học quốc gia, quy định ba nhiệm vụ: Một là, thực hiện việc tin học hóa mọi công việc hành chính và hoạt động của chính phủ; Hai là, phối hợp giáo dục và đào tạo tin học; Ba là, phát triển và thúc đẩy công nghiệp dịch vụ tin học ở Singapo.
Một ủy ban máy tính quốc gia đƣợc thành lập để quản lý công tác đó. - Tại Australia: Khi nghiên cứu vấn đề thúc đẩy phát triển ứng dụng CNTT trong giáo dục và đào tạo, giáo sƣ David Mousund, bộ phận quản lý và chính sách trƣờng Đại học Oregon Australia đã đƣa ra các luận điểm: + Lĩnh vực ICT (Information Communication Technology) đang thay đổi nhanh chóng đến mức nó vƣợt quá khả năng cập nhật của đa số các nhà lãnh đạo khiến họ lo ngại. + Những tƣ tƣởng chủ đạo cơ bản về sử dụng ICT trong giáo dục tuy đã thay đổi nhƣng thay đổi rất chậm. Trong luận điểm của mình, giáo sƣ David Mousund, bộ phận quản lý và chính sách trƣờng Đại học Oregon Australia đã chỉ ra vấn đề là cần phải thay đổi tƣ tƣởng của nhà quản lý.
Ông chỉ ra mâu thuẫn giữa ICT và tƣ tƣởng của nhà quản lý. Tại hội thảo do ĐHQG Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức với chủ đề “Các giải pháp công nghệ và quản lý ứng dụng CNTT trong giáo dục” do hãng Microsoft tài trợ, các tác giả: Giáo sƣ Vƣơng Thanh Sơn. UBC (Viện đại học British Columbia, Canada) đã có tham luận về “Những thay đổi quản lý trong thời đại thông tin”. Theo các nhà khoa học cần thúc đẩy ứng dụng CNTT trong giáo dục.
Cần làm rõ tác động và tầm 7 quan trọng của CNTT, cách sử dụng wed trong GD&ĐT, đặc biệt là cần thay đổi quản lý trong thời đại thông tin. Do ý nghĩa, tầm quan trọng của CNTT đối với phát triển kinh tế – xã hội trong thời kỳ CNH, HĐH đất nƣớc nên Đảng và Nhà nƣớc đã có những chủ trƣơng, chính sách hết sức quan trọng để đẩy mạnh việc ứng dụng, phát triển CNTT: - Chỉ thị số 58/CT-TW của Bộ chính trị ngày 17/10/2000 về đẩy mạnh và ứng dụng CNTT phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH nêu rõ: “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác GD&ĐT ở các cấp học, bậc học, ngành học; phát triển các hình thức đào tạo từ xa phục vụ cho nhu cầu học tập của toàn xã hội. Đặc biệt tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ cho giáo dục và đào tạo, kết nối Internet tới tất cả các cơ sở GD&ĐT”. - Luật CNTT đã đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006.
- Nghị định số 64/2007/NĐ-CP về ứng dụng CNTT trong hoạt động cơ quan nhà nƣớc. - Chị thị số 29/2001/CT-BDG&ĐT ngày 30/7/2011 của Bộ trƣởng Bộ GD&ĐT về tăng cƣờng giảng dạy đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành GD giai đoạn 2001- 2005. - Công văn số 9584/BGD&ĐT-CNTT, ngày 07 tháng 9 năm 2007 của Bộ GD&ĐT hƣớng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2007-2008 về ứng dụng CNTT. - Chủ đề của năm học 2008-2009 mà Bộ GD&ĐT chọn và công bố ngày 31 tháng 7 năm 2008 tại Hải Phòng nhân dịp Bộ GD&ĐT tổ chức Hội nghị tổng kết năm học 2007-2008, triển khai phƣơng hƣớng, nhiệm vụ năm học 2008-2009 là “Năm học ứng dụng CNTT để nâng cao chất lƣợng giảng dạy và đổi mới cơ chế quản lý tài chính trong ngành”.
8 - Công văn số 273/CNTT, ngày 12/8/2008 của Cục CNTT (Bộ GD-ĐT) về việc kết nối cáp quang Internet đến các trƣờng trong cả nƣớc. Việc nghiên cứu ứng dụng CNTT vào quản lý GD đặc biệt là trong quản lý nhà trƣờng đã đƣợc một số luận văn thạc sỹ, công trình khoa học nghiên cứu đề cập đến, chẳng hạn nhƣ: “Một số biện pháp chỉ đạo việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác quản lý dạy học tại các trƣờng THPT” của tác giả Nguyễn Văn Tuấn (Đại học Sƣ phạm Hà Nội, 2006), “Một số biện pháp nhằm phát triển ứng dụng CNTT trong quản lý GD ở huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng” của tác giả Nguyễn Văn Khiêm (Đại học Sƣ phạm Hà Nội, 2006); đề tài KHCN cấp Bộ: “Nghiên cứu tổ chức và quản lý việc ứng dụng CNTT&TT trong quản lý nhà trƣờng THCS” do Trƣơng Đình Mậu làm chủ nhiệm,…. Những công trình nghiên cứu và luận văn thạc sỹ trên đã đề cập đến việc ứng dụng CNTT vào trong quản lý ở nhà trƣờng, khẳng định ý nghĩa tầm quan trọng của ứng dụng CNTT trong quản lý và các tác giả cùng đề xuất đƣợc một số biện pháp cần thiết, khả thi nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT trong quản lý. Tuy nhiên, mới chỉ dừng ở một phạm vi, một trƣờng, một số khía cạnh nào đó.
Chƣa có công trình nghiên cứu khoa học nào đề cập đến việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trƣờng tiểu học huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Vì thế,tôi đã đi sâu nghiên cứu đề tài này mong muốn đề xuất đƣợc những biện pháp nhằm tăng cƣờng quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trƣờng tiểu học, góp phần nâng cao chất lƣợng giáo dục TH ở huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Một số khái niệm cơ bản. Giáo dục bao gồm cả việc dạy lẫn việc học cùng với hệ thống các tác động sƣ phạm khác diễn ra ở trong và ngoài lớp, trong và ngoài nhà trƣờng cũng nhƣ ở gia đình và ngoài xã hội.
Đó chính là một quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách, đƣợc tổ chức một cách có mục đích và kế hoạch thông qua các hoạt động và các quan hệ dục, 9 nhằm chiếm lĩnh những kinh nghiệm của xã giữa ngƣời giáo dục và ngƣời đƣợc giáo hội và loài ngƣời. Giáo dục đƣợc hiểu nhƣ là quá trình tác động tới thế hệ trẻ về mặt đạo đức, tƣ tƣởng và hành vi… nhằm hình thành niềm tin, lý tƣởng, động cơ, thái độ và những hành vi thói quen cƣ xử đúng đắn trong xã hội. Dạy học là một bộ phận giáo dục - đó là quá trình tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh nhằm truyền thụ và lĩnh hội những tri thức khoa học, những kỹ năng và kỹ xảo hoạt động nhận thức thực tiễn, để trên cơ sở đó hình thành thế giới quan, phát triển năng lực sáng tạo và xây dựng các phẩm chất nhân cách theo mục đích giáo dục. Quá trình dạy học là một hệ thống toàn vẹn gồm hoạt động dạy và hoạt động học luôn luôn tƣơng tác với nhau, thâm nhập vào nhau, sinh thành ra nhau.
Sự tƣơng tác giữa dạy và học mang tính chất công tác. Trong đó, dạy học giữ vai trò chủ đạo. Quản lý Quản là một dạng lao động đặc thù của xã hội. Hoạt động quản lý xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nƣớc, tồn tại và phát triển theo sự phát triển sự phát triển chung của xã hội.
Trong hoạt động của bất cứ tổ chức xã hội nào, hoạt động quản lý mang tính chất quyết định đến sự thành bại của tổ chức đó. Vì vậy, hoạt động quản lý từ lâu đã trở thành khoa học; khoa học về quản lý. Tùy vào những cách tiếp cận khác nhau mà có những quan điểm khác nhau về quản lý. Theo quan niệm truyền thống, quản lý là quá trình tác động có ý thức của chủ thể vào một bộ máy (đối tƣợng quản lý) bằng cách vạch ra mục tiêu cho bộ máy, tìm kiếm các biện pháp tác động để bộ máy đạt tới mục tiêu xác định.
Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn: Quản lý là quá trình tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý thông qua các công cụ, phƣơng tiện để đạt đƣợc mục tiêu quản lý. Quản lý là quá trình làm việc với ngƣời khác và thông qua ngƣời khác để đạt 10 đƣợc các mục tiêu của tổ chức trong một môi trƣờng biến động. Trung tâm của quá trình là việc sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên bị hạn chế. Theo tác giả Trần Quốc Thành, quản lý là quá trình tác động có ý thức vào một bộ máy bằng cách vạch ra mục tiêu cho bộ máy, tìm kiếm các biện pháp tác động vào bộ máy để đạt đƣợc mục đích.