CHƯƠNG 1: THIẾT KẾ DẠY HỌC SỐ * MỤC TIÊU CỦA BÀI HỌC Hoàn thành bài học này, người học có khả năng: - Kiến thức: Phân tích được vai trò, đặc trưng, các yếu tố ảnh hưởng đến dạy học số; nguyên tắc, yêu cầu sư phạm và công nghệ đối với thiết kế dạy học số. - Kỹ năng: Sử dụng công cụ thiết kế học liệu số và thiết kế dạy học số với công cụ dạy học trực tuyến đảm bảo dung lượng hợp lý, dễ sử dụng, phù hợp với thiết bị và thói quen công nghệ của người học, đảm bảo tính sư phạm. - Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Chủ động thực hiện thiết kế dạy học số với công cụ dạy học trực tuyến đảm bảo tính sư phạm và an toàn. * NỘI DUNG CỦA CHỦ ĐỀ 1.
Dạy học số 1. Vai trò của công nghệ số và đặc trưng của dạy học số 1. Khái niệm dạy học số Dạy học số xuất hiện từ những năm 1980 của thế kỷ trước và ngày càng trở nên phổ biến. Cho đến nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ này.
Tuy nhiên, có thể điểm qua một số các giải thích khác nhau về dạy học số như sau: - Dạy học số là việc sử dụng công nghệ mạng để thiết kế, phân phối, lựa chọn, quản lý và mở rộng việc giảng dạy và học tập. - Dạy học số là tổ hợp của công nghệ Internet và Web nhằm tạo ra, cho phép, phân phối, và/hoặc cung cấp các phương tiện phục vụ việc giảng dạy và học tập. - Dạy học số là dạy và học dựa trên công nghệ số hướng tới một hệ thống giáo dục chất lượng tốt, tiếp cận dễ dàng. - Dạy học số là phương thức mà GV tổ chức, hướng dẫn cho người học khám phá, tìm tòi, lĩnh hội kiến thức, kỹ năng một cách gián tiếp thông qua các phương tiện hỗ trợ như điện thoại, máy tính, internet - Dạy học số được hiểu là mô hình học tập được thực hiện qua Internet.
Theo cách hiểu khác, thường được gọi là học tập điện tử (E-learning). - Dạy học số là kiểu học tập được triển khai hoàn toàn dựa trên nền tảng công nghệ thông tin và Internet. - Dạy học số được hiểu là một kiểu học tập từ xa - thuật ngữ chung nhất chỉ bất kỳ việc học nào diễn ra với một khoảng cách mà không theo truyền thống (dạy trực tiếp trên lớp học). Theo quan điểm hiện đại, dạy học số là sự phân phát các nội dung học sử dụng các công cụ điện tử hiện đại như máy tính, mạng vệ tinh, mang Internet, Intranet,… trong đó nội dung học có thể thu được từ các website, đĩa CD, băng video, audio… thông qua một máy tính hay TV; người dạy và người học có thể giao tiếp với nhau qua mạng dưới các hình thức như: Email, thảo luận trực tuyến (Chat), diễn đàn trực tuyến (Forun) … Như vậy, một cách chung nhất có thể hiểu, dạy học số là sử dụng các công nghệ dựa trên nền tảng của mạng Internet để tiến hành dạy học.
Về bản chất, dạy học số trong GDNN là quá trình giáo viên tổ chức hoạt động chiếm lĩnh tri thức và kỹ năng nghề nghiệp của người học thông qua hệ thống công nghệ, người học thông qua hệ thống công nghệ để tương tác với giáo viên, bạn cùng học và trang bị kiến thức, kỹ năng cho bản thân; các hoạt động này được quản lý bởi hệ thống quản lý (hệ thống công nghệ quản lý). Người học sẽ học bằng các thiết bị thông minh như máy tính/điện thoại., thông qua trang Web trong một lớp học ảo. Nội dung bài học sẽ được phân phối tới học viên qua Internet, mạng intranet/extranet (LAN/WAN), băng audio và video, vệ tinh quảng bá, truyền hình tương tác, CD-ROM, và các loại học liệu điện tử khác. Việc triển khai áp dụng mô hình dạy học số khá đa dạng, đơn giản nhất là hình thức cung cấp các bài giảng điện tử trên đĩa CD cho học viên tự học, phức tạp hơn là những lớp học được tổ chức trên mạng Internet với sự quản lý một cách có hệ thống.
Theo cách này, người học không phải di chuyển đến các lớp học mà thực hiện các hoạt động học tập từ xa thông qua các kênh giao tiếp trên Internet. Trong những năm trước đây, các giáo viên phải tạo ra các lớp học ảo của họ từ đầu rất khó khăn và thường dẫn đến kết quả kém. Ngày nay, toàn bộ ngành công nghiệp phần mềm đã cho ra đời hàng loạt phần mềm ứng dụng dạy học. Các phần mềm về hệ thống quản lý khóa học (CMS - Course Management System) được nhiều trường học sử dụng.
CMS cho phép giáo viên thiết kế và cung cấp các khóa học của họ một cách linh hoạt bao gồm một số công cụ khác nhau để tổ chức dạy học. Vai trò của công nghệ số trong dạy học Thứ nhất, giúp hoạt động dạy học đạt hiệu quả cao Sự ra đời của công nghệ thông tin là sự tích hợp đồng thời các tiến bộ về công nghệ và tổ chức thông tin, đem đến nhiều ảnh hưởng tích cực cho sự phát triển của dạy thức vô cùng đa dạng và phong phú cho người học và người dạy, giúp cho việc tìm hiểu kiến thức đơn giản hơn rất nhiều, cải thiện chất lượng học và dạy Thứ hai, thúc đẩy tiếp cận mở trong giáo dục và dạy học Công nghệ thông tin thúc đẩy một nền giáo dục mở, giúp con người tiếp cận thông tin đa chiều, rút ngắn khoảng cách, thu hẹp mọi không gian, tiết kiệm tối ưu về thời gian. Từ đó con người phát triển nhanh hơn về kiến thức, nhận thức và tư duy. Chương trình giáo dục mở giúp con người trao đổi và tìm kiếm kiến thức một cách hiệu quả.
Đi kèm với giáo dục mở là tài nguyên học liệu mở, giúp người học, người dạy kết nối với kiến thức hiệu quả dù họ ở đâu và trong khoảng thời gian nào. Tài nguyên học liệu mở là một xu hướng phát triển tất yếu của nền giáo dục hiện đaị. Thứ ba, tạo không gian và thời gian học linh động Công nghệ thông tin tạo điều kiện cho người học có thể học tập và tiếp thu kiến thức một cách linh động và thuận tiện. Mọi người có thể tự học ở mọi lúc, mọi nơi, có thể tham gia thảo luận một vấn đề mà mỗi người đang ở cách xa nhua, góp phần tạo ra xa hội học tập mà ở đó, người học có thể học tập suốt đời.
Thứ tư, đáp ứng nhu cầu cá nhân hóa học tập Công nghệ thông tin sẽ tạo cơ hội cho người học có thể lựa chọn những vấn đề mà mình ưa thích, phù hợp với năng khiếu của mỗi người, từ đó mà phát triển theo thế mạnh của từng người do cấu tạo khác nhau của các tiểu vùng vỏ não. Chính điều đó sẽ thúc đẩy sự phát triển của các tài năng. Thứ năm, lưu trữ nguồn tri thức đa dạng và được cập nhật thường xuyên Nếu như trước đây, việc tiếp thu kiến thức được cung cấp từ sách vở và giáo viên thì hiện nay, nguồn kiến thức đa dạng này được cung cấp trực tuyến qua kết nối mạng internet. Điều này đóng một vai trò to lớn trong quá trình đổi mới giáo dục.
Đổi mới giáo dục phải chuyển nền giáo dục từ chủ yếu là truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực người học, bằng cách giúp người học phương pháp tiếp cận và cách tự học, cách giải quyết vấn đề. Việc truyền thụ, cung cấp kiến thức, dần dần sẽ do công nghệ thông tin đảm nhận, giải phóng người thầy khỏi sự thiếu hụt thời gian, để người thầy có thể tập trung giúp người học về phương pháp tiếp cận và giải quyết vấn đề, tổ chức các hoạt động học tập gắn với thực tiễn nhằm phát triển năng lực của học sinh. Đặc trưng của dạy học số Dạy học số có những đặc trưng nổi bật sau đây: - Không bị giới hạn bởi không gian và thời gian: Sự phổ cập rộng rãi của Internet đã dần xoá đi khoảng cách về thời gian và không gian cho dạy học số. Nội dung dạy học số được chuyển tải qua mạng tới máy tính của người học, điều này cho phép người học học bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu.
- Dễ tiếp cận và thuận tiện: Dạy học số được thực hiện dựa trên dịch vụ Internet, vì vậy việc tiếp cận rất dễ dàng. Bảng danh mục bài giảng sẽ cho phép người học lựa chọn đơn vị tri thức, tài liệu một cách tuỳ ý theo trình độ kiến thức và điều kiện truy nhập mạng của mình. Người học tự tìm ra các kĩ năng học cho riêng mình với sự giúp đỡ của những tài liệu trực tuyến. - Tính hấp dẫn: Với sự hỗ trợ của công nghệ multimedia, những bài giảng được tích hợp dạng văn bản với các dạng hình ảnh, âm thanh, video… , điều này sẽ tạo sự lôi cuốn, cuốn hút người học tương tác với bài học.
- Tính cập nhật: Nội dung khoá học thường xuyên được cập nhật và đổi mới nhằm đáp ứng và phù hợp tốt nhất cho người học. - Tính linh hoạt: Bản chất của Internet, nền tảng của công nghệ học trực tuyến là linh hoạt. Từ khi đăng kí học đến lúc hoàn tất, người học có thể học theo thời gian biểu mình định ra, không bị gò bó bởi thời gian và không gian lớp học dù vẫn đang ở trong lớp học “ảo”. Tính linh hoạt còn thể hiện ở “tự định hướng” và “tự điều chỉnh” như trình bày dưới đây.
- Tự định hướng: Vì là lớp học trực tuyến nên trong một số dịch vụ, người học có thể tự định hướng cho mình, bằng cách chọn lớp học/khóa học phù hợp nhất đối với trình độ, sở thích, mục tiêu của bản thân, hoặc một tổ chức; có thể yêu cầu cơ sở cung cấp dịch vụ học trực tuyến thiết kế khóa học theo yêu cầu của mình, theo định hướng hay theo nhu cầu kiến thức của nhân viên. - Tự điều chỉnh: Người học có thể tự điều chỉnh nhịp điệu khóa học cho mình, nghĩa là có thể học từ từ hay nhanh do thời gian mình tự sắp xếp hay do khả năng tiếp thu kiến thức của mình. - Tính đồng bộ: Giáo trình và tài liệu có tính đồng bộ cao vì chương trình và các tài liệu soạn thảo được đưa lên trang trực tuyến từ ban đầu. - Học có sự hợp tác, phối hợp (Collaborative learning): Người học có thể giao lưu và tương tác với nhiều người cùng lúc, có thể hợp tác với bạn bè trong nhóm học trực tuyến để thảo luận và làm bài tập về nhà.
Người học cũng có thể tương tác với nhiều người cùng lúc, hoặc trao đổi với giảng viên.