TRƯỜNG TRUNG CẤP QUỐC TẾ MEKONG GIÁO TRÌNH CHÂM CỨU - CÁC PHƯƠNG PHÁP CHỮA BỆNH KHÔNG DÙNG THUỐC Trình độ: Trung cấp Ban hành kèm theo quyết định số : …/2021/QĐ-TCQTMK ngày….năm 2021 của Trường Trung cấp Quốc tế Mekong LƯU HÀNH NỘI BỘ 1 TT TÊN BÀI HỌC SỐ TRANG 1 Đại cương về châm cứu và các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc 2 Đại cương về kinh lạc, huyệt vị 3 60 huyệt thường dùng trong điều trị 3 12 Kinh chính 4 Kinh cân 5 Huyệt ngoài kinh 6 Nguyên tắc chon huyệt 7 Kỹ thuật châm cứu 8 Điện châm, thuỷ châm 9 Đại cương về xoa bóp, bấm huyệt và luyện tập dưỡng sinh 10 Kỷ thuật xoa bóp bấm huyệt 11 Vận động cơ khớp 12 Xoa bóp theo từng vùng cơ thể 13 Luyện thở, luyện tinh thần 14 Điều trị một số bệnh chứng thường gặp bằng châm cứu và các phương pháp không dùng thuốc 2 ĐẠI CƯƠNG VỀ CHÂM CỨU VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP CHỮA BỆNH KHÔNG DÙNG THUỐC MỤC TIÊU: Học xong phần này học sinh có khả năng: 1. Trình bày khái quát lịch sử châm cứu Việt Nam và vị trí của châm cứu trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Nêu được chỉ định và chống chỉ định của châm cứu trong chữa bệnh. NỘI DUNG I- LỊCH SỬ CHÂM CỨU Ở VIỆT NAM 1- Trước Cách mạng tháng 8: 2- Châm cứu được ứng dụng ở Việt Nam từ rất lâu đời - Từ thời Thục An Dương Vương, nước ta có Thôi Vỹ dùng châm cứu để chữa bệnh.
Khoảng thế kỷ III, Bảo cô là thầy thuốc châm cứu nổi tiếng ở Việt Nam và cả Trung Quốc. - Thế kỷ XIV, Trâu Canh cứu sống hoàng tử Hạo tức vua Trần Dụ Tông bằng châm cứu, Danh y Tuệ Tĩnh viết về kinh lạc, huyệt vị trong Hồng nghĩa giác tư y thư. Nguyễn Bá Tĩnh – “Nam dược thần hiệu” - Thế kỷ XV (Nhà Hồ) Nguyễn Đại Năng viết cuốn “Châm cứu tiệp hiệu diễn ca” để phổ cập rộng rãi. Nguyễn Trực giới thiệu châm cứu trong Nhi khoa.
- Thế kỷ XVIII, Hải Thượng Lãn Ông có ghi các phương pháp chữa bệnh trẻ em bằng châm cứu. Lê Hữu Trác- Hải thượng y tông tâm lĩnh - Song song với dòng y học chính thống, trong dân gian vẫn lưu truyền các phương pháp day ấn, xoa bóp, chích lể chữa bệnh. 2- Sau cách mạng tháng 8: châm cứu Việt Nam càng phát triển mạnh mẽ Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ chủ trương thừa kế, phát huy y học cổ truyền dân tộc, châm cứu được chú trọng khai thác và phát triển. Hiện nay châm cứu Việt Nam đã có tiếng vang lớn trên thế giới.
Nhiều chuyên gia châm cứu Việt Nam đã được mời sang các nước châu Âu, châu Phi, châu Mỹ. để chữa bệnh và đào tạo cán bộ. Chương trình châm cứu được giảng dạy chính thức ở các cấp đào tạo y tế. Năm 1983 Viện Châm cứu Việt Nam được thành lập.
Hội Châm cứu Việt Nam có trên 20.000 hội viên trải khắp đất nước. Châm cứu và các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc với dụng cụ đơn giản, dễ ứng dụng vừa giải quyết được các bệnh thông thường vừa tham gia cai nghiện ma túy, nghiện thuốc lá có hiệu quả và góp phần phục hồi chức năng trong các trường hợp bại liệt, teo cơ cứng khớp có hiệu quả. 3 Tháng 11 năm 1999, Hội nghị Châm cứu Thế giới đã họp tại Việt Nam. Việt nam được nhìn nhận là nước có một nền châm cứu phát triển, có nhiều đóng góp cho châm cứu Thế giới Gs Nguyễn Tài Thu II- TÁC DỤNG CỦA CHÂM CỨU Châm cứu có 2 tác dụng chính: 1- Tác dụng điều khí : khí huyết lưu thông bình thường Châm cứu điều hòa chức năng của các tạng phủ.
Sự mất cân bằng âm dương trong cơ thể phản ánh 4 trạng thái: - Hư là chính khí suy giảm, dùng châm bổ để điều chỉnh - Thực là tà khí mạnh hoặc hoạt động của tạng phủ thái quá, dùng châm tả để điều chỉnh. Hàn là sức nóng của cơ thể thiếu hụt, thường dùng cứu hoặc ôn châm. Nhiệt là sức nóng của cơ thể tăng, thường phải châm tả hoặc châm nặn máu 2- Tác dụng giảm đau Đau là do khí huyết bị ứ tắc, kinh lạc không thông; châm cứu hành khí, hoạt huyết, làm thông kinh lạc nên làm giảm đau. III- CƠ CHẾ TÁC DỤNG CỦA CHÂM CỨU Kết quả của châm cứu là rõ ràng, đôi khi kỳ diệu.
Từ lâu, rất nhiều người đã giải thích, nghiên cứu chứng minh tác dụng của châm cứu nhưng đều chưa thỏa đáng 1- Theo y học hiện đại Châm cứu là một kích thích tạo ra cung phản xạ mới có tác dụng ức chế hoặc dập tắt cung phản xạ bệnh lý 1.1- Phản ứng tại điểm châm Là phản ứng đột trục của tế bào thần kinh: cơ co lại mút kim châm, các mao mạch co lại hoặc giãn nở làm thay đổi màu da ở chân kim, histamin được tiết ra, bạch cầu tập trung lại. do đó làm mềm cơ, giảm đau tại chỗ. Dựa vào phản ứng loại này ta chọn châm những huyệt gần nơi đau, đặc biệt là huyệt A thị (thống điểm) để chữa chứng đau cấp 1.2- Phản ứng theo tiết đoạn thần kinh Cơ thể có 31 tiết đoạn, mỗi tiết đoạn gồm một đôi dây thần kinh tuỷ sống, một khoanh tủy, đôi hạch giao cảm, một số cơ quan bộ phận và vùng da thuộc tiết đoạn đó. Khi một bộ phận trong tiết đoạn có bệnh sẽ gây nên sự thay đổi bất thường ở da (ấn đau, điện trở giảm.
Châm cứu vào các huyệt thuộc tiết đoạn có thể điều chỉnh những rối loạn trong tiết đoạn, làm 4 mất co thắt và giảm đau. Dựa vào loại phản ứng này ta chọn dùng các huyệt Du ở lưng, huyệt Giáp tích và huyệt Mộ để chẩn đoán và điều trị 1.3- Phản ứng toàn thân Bất cứ một kích thích nào, từ ngoài cơ thể hay từ trong nội tạng đều được truyền lên vỏ não. Theo nguyên lý về hiện tượng chiếm ưu thế, “Trong cùng một thời điểm, nếu trên vỏ não có 2 điểm hưng phấn, ổ hưng phấn nào do luồng kích thích mạnh hơn và liên tục hơn sẽ thu hút các kích thích của ổ hưng phân kia về nó và dập tắt ổ hưng phấn kia”. Dựa vào phản ứng toàn thân của vỏ đại não, ta chọn dùng những huyệt ở xa vùng bệnh nhưng có tác dụng đặc hiệu đến vùng bệnh; khi châm cần đạt “cảm giác đắc khí” (căng, tê, tức, nặng) đó là dấu hiệu báo kích thích đã đạt mức độ có tác dụng trị liệu 2- Theo y học cổ truyền Châm cứu có tác dụng điều khí, làm thông kinh hoạt lạc do đó điều chỉnh được những rối loạn công năng của các tạng phủ, làm giảm đau nhanh chóng, duy trì được sự hòa nhịp giữa các tạng phủ, duy trì được sự cân bằng âm dương trong cơ thể.1- Dựa vào trạng thái bệnh hư hay thực, châm cứu đề ra những nguyên tắc Thực thì châm tả, hư thì châm bổ Nghĩa là nếu tà khí mạnh, gây nên những phản ứng thái quá (như sốt cao, co giật.) thì phải châm tả (châm kích thích mạnh, không cần lưu kim lâu).
Hoặc nếu chính khí hư tức là khả năng chông đỡ của cơ thể quá yếu, công năng tạng phủ quá yếu, bất cập (cơ bắp teo yếu, tiêu hóa kém.) thì phải châm bổ (kích thích vừa và nhẹ, lưu kim lâu.2- Dựa vào học thuyết âm dương, châm cứu đề ra những nguyên tắc Bệnh hàn thì cứu hoặc ôn châm Bệnh nhiệt thì châm hoặc nặn máu hoặc: Tòng âm dẫn dương, tòng dương dẫn âm Ví dụ: Chứng Vị quản thống (đau dạ dày), vị là phủ thuộc dương nên khi chữa bằng châm cứu, thường châm huyệt Mộ của vị thuộc âm trước 2.3- Dựa vào học thuyết Kinh lạc, châm cứu đề ra nguyên tắc Đau trên châm dưới, đau dưới châm trên Ví dụ: Đau răng hàm trên, châm huyệt ở chân (Nội đình); đau răng hàm dưới châm huyệt ở tay (Hợp cốc) 2.- Dựa vào học thuyết Ngũ hành, châm cứu đề ra nguyên tắc “Con hư bổ mẹ, mẹ thực tả con” để chọn huyệt dùng theo Ngũ du huyệt. 5 IV- CHỈ ĐỊNH DÙNG CHÂM CỨU CHỮA BỆNH Nói chung, tất cả những chứng bệnh do rối loạn chức năng là chủ yếu. Có những bệnh châm cứu cần phối hợp các phương pháp trị liệu khác hoặc chỉ tham gia trong những giai đoạn nhất định của bệnh 1- Bệnh tâm - thần kinh Tâm căn suy nhược, đau thần kinh ngoại biên (đau TK hông, đau TK liên sườn, đau TK tam thoa), tê liệt TK (liệt mặt, liệt chi, liệt nửa người), rối loạn tiền đình. 2- Bệnh tim mạch Rối loạn nhịp tim, co thắt mạch vành, cơn tăng huyết áp, hạ huyết áp, choáng ngất.
3- Bệnh hô hấp Viêm Amidan cấp, viêm thanh quản, ho do viêm phế quản, khó thở do hen, khản tiếng, mất tiếng. 4- Bệnh tiêu hóa Nôn, nấc, ỉa chảy do rối loạn tiêu hóa. Cơn đau do viêm loét dạ dày - tá tràng, táo bón, đầy bụng chậm tiêu, trĩ giai đoạn I, II, sa trực tràng. 5- Bệnh tiết niệu - sinh dục Bí đái cơ năng, tiểu đêm nhiều, đái dầm, thiểu năng sinh dục, di tinh, liệt dương, rối loạn kinh nguyệt, thống kinh.
6- Bệnh ngũ quan Đau răng, ù tai, giảm thính lực, điếc câm, giảm thị lực, viêm mũi, mẩn ngứa mày đay. 7- Bệnh khớp Sưng đau các khớp trong trường hợp viêm đa khớp dạng thấp hoặc teo cơ cứng khớp. 8- Giảm đau Thường áp dụng trong châm tê để phẫu thuật, đau đầu do tâm căn suy nhược, cảm cúm, đau lưng, đau thần kinh vai tay. V- CHỐNG CHỈ ĐỊNH CHÂM CỨU 1- Chống chỉ định tuyệt đối - Các bệnh cấp cứu ngoại khoa, sản khoa và các chuyên khoa khác cần giải quyết bằng phẩu thuật cấp cứu.
- Các bệnh truyền nhiểm nguy hiểm như: Bệnh bạch cầu, lao, viêm gan do virus, thương hàn. 6 2- Chống chỉ định tương đối: - Suy tim, thiếu máu nặng do các nguyên nhân, tai biến mạch máu não chưa ổn định. - Suy hô hấp, khó thó thở cấp do phù nề thanh quản. - Ỉa chảy mất nước nhiểm độc thần kinh.
- Uốn ván, co giật do hạ đường huyết, do hạ calci máu. VI- CÁC HÌNH THỨC CHÂM CỨU Hào châm: Dùng kim nhỏ có đường kính khoảng 0,1- 0,2 ly, dài từ 2- 7 cm. 7 ĐẠI CƯƠNG VỀ KINH LẠC 1. Thuyết kinh lạc Thuyết kinh lạc là một bộ phận của lý luận cơ bản trong Đông y, nó chỉ đạo các khâu chẩn đoán bệnh, chữa bệnh, bào chế thuốc và xoa bóp.
Người xưa nói:” Nghề làm thuốc nếu không biết kinh lạc thì dễ bị sai lầm”. Hệ kinh lạc Kinh là những đường chạy dọc cơ thể, đi ở sâu; Lạc là những đường ngang, là cái lưới đi ở nông.