CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU HỢP ĐỒNG & THỊ TRƯỜNG TRONG HỢP ĐỒNG 1. Giới thiệu về hợp đồng ngoại thương Hợp đồng ngoại thương hay còn gọi là hợp đồng xuất nhập khẩu, là sự thỏa thuận của bên mua và bên bán giữa hai nước khác nhau, trong đó quy định bên bán phải cung cấp hàng hóa và chuyển giao các chứng từ có liên quan đến hàng hóa và quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và bên mua phải thanh toán tiền hàng. Hợp đồng nhóm sưu tầm được là hợp đồng mua bán giữa công ty TNHH dịch vụ xuất nhập khẩu Thuận Phát tại Việt Nam và công ty dự án SOF Construction có trụ sở tại Pháp vào ngày 25 tháng 8 năm 2020. Chi tiết hợp đồng như sau: Người nhập khẩu: SOF CONSTRUCTION Địa chỉ: 2750 Route de la Cride, 13610 Le Puy-Sainte-Réparade, France Người xuất khẩu: THUAN PHAT MPORT EXPORT SERVICE COMPANY LIMITED Địa chỉ: E6 Road No.19, KP2, Binh An Ward, District 2, Ho Chi Minh city, Viet Nam Hợp đồng xuất khẩu ngày 25 tháng 8 năm 2020 Lô hàng có nội dung như sau: ● Tên mặt hàng: SAWN GRANITE STONE ( đá hoa cương đã được xẻ ) ● Khối lượng hàng hóa: 115,000 kg ● Giá theo CIF: 14.799 USD ● Tổng giá: 14,800 USD Chất lượng như mẫu mà hai bên đồng ý, đóng gói bằng theo gói ( Packages) ● Lô hàng được thanh toán theo 100% T/T trước khi giao hàng thông qua ngân hàng Vietcombank theo chi nhánh Nam Sài Gòn ● Giao hàng trong 15 ngày kể từ khi hợp đồng được ký ● Port of Loading: Cảng Quy Nhơn, Việt Nam ● Port of Discharge: Cảng FOS SUR MER, Pháp ● Transhipment: Singapore ● Partial shipment: bị cấm 1 0 Dựa vào hợp đồng trên, ta có thể thấy được phương thức vận tải của hợp đồng là phương thức vận tải bằng đường biển, cụ thể hơn ở đây là qua tàu chợ (Thông qua Booking Confirmation).
Đây là hợp đồng mẫu mà nhóm sưu tầm để thực hiện đề tài. Tổng quan về thị trường xuất khẩu trong hợp đồng Nền kinh tế Pháp đa dạng hóa ở tất cả các lĩnh vực. Chính phủ sở hữu một phần hoặc toàn bộ nhiều công ty lớn, như Air France, France Telecom, Renault và Thales. Tuy nhiên, chính phủ duy trì sự hiện diện ở một số lĩnh vực, đặc biệt là điện, giao thông công cộng và ngành quốc phòng.
Với hơn 84 triệu lượt khách du lịch quốc tế mỗi năm, Pháp là một trong những quốc gia có ngành du lịch phát triển nhất trên thế giới và duy trì là nước có thu nhập cao thứ ba từ ngành du lịch. Năm 2014, Pháp đứng thứ 7 thế giới về xuất khẩu. Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Pháp năm 2014 đạt 578,3 tỷ USD, giảm 0,4% so với năm 2013. Mặt hàng xuất khẩu chính của Pháp là máy móc, thiết bị và các phương tiện vận tải (như ôtô, tàu hoả, máy bay), máy bay, nhựa, hóa chất, dược phẩm, sắt thép, đồ uống.
Năm 2014, Pháp đứng thứ 18 thế giới về nhập khẩu. Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá của Pháp năm 2014 đạt 634 tỷ USD, giảm 0,5% so với năm 2013. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Pháp gồm máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, dầu thô, máy bay, nhựa, hóa chất. Quan hệ hợp tác kinh tế - thương mại với Việt Nam: Trong những năm trước kim ngạch trao đổi thương mại Việt - Pháp tăng liên tục (khoảng 10-15%/năm), đưa Pháp trở thành một trong những bạn hàng lớn nhất của Việt Nam ở Tây Âu.
Trong ba năm qua, thương mại hai chiều Việt Nam – Pháp luôn đạt trên 3 tỷ USD, riêng năm 2012 đạt mức cao nhất, trên 3,7 tỷ USD. Việt Nam luôn xuất siêu sang Pháp. Năm 2013, kim ngạch thương mại hai nước đạt 3,2 tỷ USD, giảm 14,7% so với một năm trước đó do sự suy giảm mạnh của nhập khẩu. Bước sang giai đoạn 2014-2015, tổng trị giá buôn bán 2 chiều giữa 2 nước đã bắt đầu tăng trở lại ở cả xuất khẩu và nhập khẩu nhưng tốc độ tăng của xuất khẩu cao hơn nhập khẩu.
1 0 Trong nhiều năm qua, trị giá xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Pháp luôn lớn hơn trị giá nhập khẩu hàng hóa có xuất xứ từ thị trường này nên cán cân thương mại luôn ở trạng thái thặng dư nghiêng về phía Việt Nam. Đáng chú ý là mức thặng dư thương mại này liên tục tăng kể từ năm 2010 đến năm 2015. Số liệu cụ thể như trong Biểu đồ 1. Số liệu thống kê ở Bảng 1 cho thấy hiện tại Pháp là thị trường cung cấp nguồn hàng nhập khẩu cho các doanh nghiệp Việt Nam lớn thứ 3 ở châu Âu và đứng thứ 18 trong tổng số các thị trường nước ngoài xuất khẩu hàng hóa vào Việt Nam.
Bên cạnh đó, Pháp cũng là thị trường xuất khẩu hàng hóa lớn thứ 5 của các doanh nghiệp Việt Nam trong số các thị trường thuộc châu Âu và đứng thứ 13 trong tổng số các thị trường xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam. Số liệu thống kê sơ bộ mới nhất của Tổng cục Hải quan cho thấy, tính đến hết tháng 7/2016, tổng kim ngạch buôn bán hai chiều giữa Việt Nam – Pháp đạt 2,23 tỷ USD, 1 0 giảm 4,4% so với cùng kỳ năm 2015. Trong đó, tổng trị giá hàng hóa Việt Nam nhập khẩu từ Pháp là 613 triệu USD, giảm 16,6% và xuất khẩu sang thị trường này là 1,62 tỷ USD, tăng nhẹ 1,2% so với 7 tháng/2015. Nhìn chung, Quan hệ thương mại hàng hóa song phương giữa Việt Nam – Pháp đã có những bước phát triển tích cực.
Tổng trị giá trao đổi thương mại hàng hóa giữa 2 nước trong năm 2015 đã tăng hơn 2 lần so với năm 2010. Tháng 12/2015, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) được ký kết đã tạo cơ hội lớn cho doanh nghiệp hai nước mở rộng hợp tác, tạo đà cho mối quan hệ đối tác chiến lược Việt – Pháp ngày càng trở nên sâu sắc hơn. Tổng quan về thị trường vận tải tại Việt Nam Mặc dù chịu tác động lớn từ dịch COVID-19, song tổng khối lượng hàng hóa thông qua cảng biển Viêẗ Nam năm 2021 vẫn đạt hơn 703 triệu tấn, tăng 2% so với năm 2020. Đặc biệt, khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu vận tải quốc tế của đội tàu biển Việt Nam đạt mức tăng trưởng hiếm có, tăng tới 54% (đạt gần 5 triệu tấn) so với năm 2020.
Các mặt hàng chủ yếu vận tải trên các tuyến đi: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, khu vực Đông Nam Á và một số tuyến châu Âu… Việc phát triển đội tàu vận tải biển quốc tế của Việt Nam là hướng đi quan trọng để giảm chi phí vận tải, từng bước nâng cao thị phần vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu (XNK) bằng đội tàu biển Việt Nam, giảm sự phụ thuộc vào đội tàu nước ngoài. Hiện tại, đội tàu của ta có xu hướng giảm về tổng số lượng tàu, nhưng tăng số lượng loại tàu có trọng tải lớn, tổng dung tích và trọng tải của đội tàu. Giai đoạn 2016 - 2020, số lượng đội tàu vận tải biển dao động từ 1. Số lượng tàu năm 2021 so với năm 2016 giảm trên 200 tàu (17,2%).
So với giai đoạn 2010 - 2015, đội tàu vận tải của Việt Nam đã giảm trên 400 tàu. Tuy nhiên, tổng dung tích và tổng trọng tải của đội tàu vận tải tăng trưởng trên 6%. Đáng chú ý, đội tàu biển Việt Nam hiện chủ yếu phù hợp với thị trường vận chuyển hàng hóa ven biển nội địa hoặc quốc tế ngắn trong khu vực. Đội tàu chưa thể cạnh tranh tại thị trường vận chuyển quốc tế, khi thế giới đang xu hướng phát triển cỡ tàu lớn hơn để tối ưu hóa chi phí (kích thước tàu chở hàng rời, tổng hợp tăng gấp 3 và số lượng tàu lớn hơn 2 lần so với tàu đã được đóng cách đây 20 năm).
Đặc biệt, đội tàu container, tàu dầu cũng đã được phát triển với kích thước tàu rất lớn trong vòng 4 năm qua. Hiện đội tàu container của Việt Nam còn quá nhỏ bé. Đến 31/3/2022, cả nước có 10 công ty vận tải container, sở hữu 48 tàu container với tổng sức chở 39.519 Teus, tổng trọng tải 548. Trong số này, có tới 13 tàu trên 25 tuổi, 3 tàu trên 20 tuổi, 15 tàu có trọng tải từ 300 Teus đến dưới 600 Teus, chỉ có thể chạy ở trong nước.
17 tàu có trọng tải từ 600 Teus trở lên có thể chạy các tuyến khu vực nội Á. Chỉ riêng Evergreen của Đài Loan đã sở hữu 116 tàu và thuê khai thác 87 tàu với tổng năng lực chuyên chở là 1,4 triệu Teus. Trong khi đó, Việt Nam có vị trí địa chính trị quan trọng, nằm trên tuyến vận tải hàng hải trọng yếu Đông - Tây bán cầu bắc, chiếm trên 80% khối lượng vận 1 0 chuyển hàng hóa toàn thế giới. Khoảng 90% khối lượng hàng hóa XNK được chuyên chở bằng đường biển.
Cùng đó, tốc độ hàng hóa thông qua cảng biển Việt Nam tăng bình quân 10% -15% năm. Đó là một trong những lợi thế lớn để Việt Nam có thể phát triển mạnh đội tàu vận tải biển quốc tế. Việt Nam hội nhập quốc tế sâu rộng nhiều hiệp định thương mại tự do, là thành viên tích cực của nhiều tổ chức quốc tế như Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO), Tổ chức Lao động quốc tế (ILO). Những điều này thúc đẩy hàng hóa Việt Nam xuất khẩu ra thị trường quốc tế.
Hệ thống cảng biển Việt Nam cũng đã có bước phát triển đồng bộ, đón được tàu lớn nhất thế giới ra vào làm hàng. Tuy nhiên, sản lượng hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam chủ yếu do đội tàu nước ngoài đảm nhận, chiếm trên 90%, đặc biệt các tuyến biển xa như Châu Mỹ, Châu Âu. Đội tàu trong nước chủ yếu vận tải nội địa và hoạt động tuyến quốc tế ngắn trong khu vực châu Á. Đội tàu của Việt Nam hiện chưa thể cạnh tranh được đội tàu nước ngoài do cơ cấu đội tàu chưa hợp lý, trọng tải nhỏ, trong khi xu hướng thế giới phát triển tàu trọng tải hơn để tối ưu hóa chi phí vận tải, đặc biệt là đội tàu container và tàu chuyên dụng.
Tuy nhiên, với tốc độ tăng trưởng về sản lượng hàng hoá xuất nhập khẩu ngày càng cao, có thể thấy tiềm năng phát triển đội tàu vận tải biển quốc tế của Việt Nam là rất lớn. Tổng quan về thị trường vận tải Pháp Pháp là nhà xuất khẩu và nhập khẩu lớn thứ hai của châu Âu sau Đức. Là một thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới và thực hiện nhiều hoạt động ngoại thương với các đối tác châu Âu, cũng như với Mỹ - Pháp là đối tác thương mại lớn thứ chín của quốc gia đó.