Tổng quan nghiên cứu

Hát Đúm Phục Lễ là một viên ngọc quý trong kho tàng di sản văn hóa phi vật thể của vùng duyên hải Bắc Bộ. Vào năm 1989, tổ chức UNESCO đã đề nghị trao tặng danh hiệu Báu vật sống cho các nghệ nhân dân gian tiêu biểu thực hành nghệ thuật này tại huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Địa bàn nghiên cứu nằm trong không gian văn hóa đặc sắc gồm 37 đơn vị hành chính của Thủy Nguyên với quy mô dân số hơn 324.569 người. Trong đó, xã Phục Lễ có diện tích tự nhiên 245,37 hecta, sở hữu bề dày truyền thống lịch sử gắn liền với chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 và hệ thống di tích cổ kính.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài bắt nguồn từ sự mai một của môi trường diễn xướng dân gian truyền thống dưới tác động của quá trình đô thị hóa và xu hướng giải trí hiện đại sau năm 1975. Thời gian tổ chức hội xuân hát Đúm từ 9 ngày truyền thống (từ mùng 2 đến mùng 10 tháng Giêng) nay đã rút ngắn xuống còn 4 đến 5 ngày. Mục tiêu của luận văn là tái hiện toàn diện bức tranh lịch sử, phân tích sâu sắc các đặc trưng thi pháp của đề tài giao duyên trong lời ca, khảo sát lề lối diễn xướng và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm bảo tồn di sản.

Phạm vi khảo sát tập trung tại 5 thôn nòng cốt của xã Phục Lễ gồm thôn Nam, thôn Trung, thôn Đông, thôn Bấc, thôn Sỏ cùng các xã lân cận như Phả Lễ, Lập Lễ và Tam Hưng trong tiến trình lịch sử từ thế kỷ XVI đến năm 2017. Nghiên cứu mang ý nghĩa học thuật và thực tiễn sâu sắc, góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng đạt trên 85% người dân địa phương tham gia bảo vệ di sản, tạo nguồn học liệu chuẩn xác cho chuyên ngành Văn học Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết thi pháp học văn học dân gian và lý thuyết diễn xướng văn hóa dân gian làm nền tảng khoa học chủ đạo. Hát giao duyên được xác định là phương thức trao đổi tình cảm lứa đôi thông qua các thể thơ dân gian truyền thống như lục bát và song thất lục bát. Đề tài giao duyên thể hiện chân thực đời sống nội tâm, khát vọng hạnh phúc lứa đôi và gắn kết cộng đồng cư dân ven biển.

Bên cạnh đó, nghiên cứu làm rõ các khái niệm cốt lõi bao gồm: hình thức tạo Đúm (tập hợp các nhóm người quây quần thưởng thức và hỗ trợ người hát), tục Mở mặt (nét văn hóa độc đáo khi thiếu nữ tháo khăn che mặt khi tìm được tri âm), và phương thức ứng tác dân gian (khả năng sáng tạo lời ca tức thời của người thực hành). Hệ thống lý thuyết này tạo tiền đề vững chắc để đánh giá tác phẩm dân gian trong trạng thái động của đời sống thực tiễn.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích kết hợp khảo sát điền dã thực địa. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 120 bài bản lời ca hát Đúm cổ truyền và đương đại được thu thập tại 5 thôn của xã Phục Lễ cùng 4 xã phụ cận gồm Phả Lễ, Lập Lễ, Tam Hưng và Ngũ Lão. Tác giả đã tiến hành 15 cuộc phỏng vấn sâu với các nghệ nhân cao tuổi (độ tuổi từ 65 đến 85 tuổi) và 10 cán bộ chuyên trách công tác văn hóa địa phương.

Luận văn kết hợp phương pháp phân tích ngữ văn với phương pháp nghiên cứu liên ngành gồm văn hóa học, dân tộc học và xã hội học nghệ thuật. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm bóc tách cấu trúc thi pháp của văn bản lời ca, đồng thời đặt tác phẩm vào đúng không gian diễn xướng và môi trường sinh thái nhân văn vùng cửa sông ven biển. Quá trình thu thập tư liệu và khảo sát thực địa được triển khai liên tục và hoàn thiện từ năm 2015 đến tháng 6 năm 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu khẳng định cấu trúc diễn xướng hát Đúm Phục Lễ tuân thủ nghiêm ngặt mô hình 3 chặng khép kín. Chặng 1 là giai đoạn vào đầu với các bước hát chào và hát mừng. Chặng 2 là chặng trung tâm với tỷ lệ dung lượng chiếm khoảng 65% toàn bộ cuộc hát, bao gồm hát đố giảng, hát họa, hát huê tình, hát lính, hát thư và hát cưới. Chặng 3 là giai đoạn kết thúc với các bài hát ra về bịn rịn. Mỗi chặng hát đòi hỏi tối thiểu từ 4 đến 6 bài bản quy chuẩn.

Thứ hai, luận văn chỉ ra sự hiện diện đặc thù của thể loại hát lính và hát thư chiếm khoảng 20% kho tàng lời ca giao duyên Phục Lễ. Đây là nét riêng biệt không xuất hiện ở các vùng hát Đúm khác, phản ánh đậm nét dấu ấn lịch sử hào hùng của cư dân bên dòng sông Bạch Đằng gắn với nhiệm vụ tòng quân bảo vệ tổ quốc.

Thứ ba, nghiên cứu làm sáng tỏ giá trị văn hóa của tục bịt mặt và mở mặt, trong đó 100% thiếu nữ từ độ tuổi 15 đến 16 tuổi trong làng xưa kia đều đội khăn đen mỏ quạ che kín mặt và chỉ mở khăn khi gặp được đối tượng tâm đầu ý hợp trong hội hát xuân. Cuối cùng, phương thức ứng tác đóng vai trò quyết định sức sống di sản, khi người hát có thể sáng tạo tức thời hơn 50% câu từ mới để thích ứng với ngữ cảnh mà vẫn giữ đúng quy tắc gieo vần của thể thơ lục bát.

Thảo luận kết quả

Các kết quả nghiên cứu có thể được hệ thống hóa trực quan thông qua biểu đồ phân bố chủ đề nội dung (hát huê tình chiếm 40%, hát đố giảng chiếm 25%, hát lính và thư chiếm 20%, hát chào và ra về chiếm 15%) cùng bảng so sánh đối sánh đặc trưng diễn xướng giữa hát Đúm Thủy Nguyên, Quan họ Bắc Ninh và hát Xoan Phú Thọ.

Nguyên nhân tạo nên bản sắc độc đáo của hát Đúm Phục Lễ bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên vùng cửa biển với 245,37 hecta đất đai màu mỡ và bề dày lịch sử của ngôi chùa Kiến Linh được khởi dựng từ thế kỷ XVI (nổi bật với các văn bia khắc năm 1563 và năm 1566 thời Mạc Mậu Hợp). Sự giao thoa giữa nghề nông, nghề dệt vải truyền thống và nghề sông nước đã tôi luyện nên tính cách cởi mở, bộc trực nhưng vô cùng tinh tế của người dân địa phương. So với vẻ thanh lịch, chuẩn mực của Quan họ Bắc Ninh, hát Đúm Phục Lễ mang tính chất dân dã, tự nhiên hơn qua hành động cầm tay trực tiếp trong suốt canh hát và sự tương tác đa chiều giữa người diễn xướng với đám đông vây quanh.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, số hóa và lưu trữ toàn diện 100% văn bản lời ca, băng ghi âm và tư liệu hình ảnh của hơn 20 nghệ nhân cao tuổi tiêu biểu tại huyện Thủy Nguyên. Mục tiêu hoàn thành việc xây dựng cơ sở dữ liệu số đa phương tiện trong giai đoạn 2024-2026 do Sở Văn hóa và Thể thao Hải Phòng chủ trì phối hợp cùng Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên.

Thứ hai, thành lập và duy trì hoạt động hiệu quả các Câu lạc bộ Hát Đúm tại 37 xã, thị trấn trên toàn huyện Thủy Nguyên, hướng tới mục tiêu thu hút trên 30% hội viên là đoàn viên, thanh niên trẻ tuổi tham gia sinh hoạt định kỳ. Thời gian thực hiện từ năm 2025 đến năm 2027 dưới sự điều phối của Phòng Văn hóa và Thông tin huyện kết hợp cùng Huyện đoàn Thủy Nguyên.

Thứ ba, đưa nghệ thuật hát Đúm Phục Lễ vào chương trình giáo dục địa phương với thời lượng tối thiểu 4 tiết ngoại khóa mỗi năm học cho 100% các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông trên địa bàn. Kế hoạch bắt đầu áp dụng từ năm học 2025-2026 do Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hải Phòng chỉ đạo thực hiện.

Thứ tư, khai thác giá trị di sản gắn liền với phát triển du lịch văn hóa tâm linh tại quần thể di tích chùa Kiến Linh và sông Bạch Đằng, đặt mục tiêu tăng trưởng 25% lượng khách tham quan lễ hội mùa xuân hàng năm. Đơn vị thực hiện là Hiệp hội Du lịch Hải Phòng phối hợp cùng Ban Quản lý Di tích xã Phục Lễ từ năm 2025 trở đi.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Văn học Việt Nam, Văn hóa học và Dân tộc học: Luận văn cung cấp khung lý thuyết thi pháp học hoàn chỉnh cùng hệ thống 120 bài ca điền dã chuẩn xác, phục vụ trực tiếp cho việc giảng dạy và viết các công trình khoa học chuyên sâu.

Thứ hai, cán bộ quản lý văn hóa và các nhà hoạch định chính sách tại các cơ quan quản lý nhà nước: Tài liệu cung cấp bức tranh thực trạng chân thực và các giải pháp bảo tồn có tính ứng dụng cao, giúp xây dựng các đề án bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể cấp địa phương cho hơn 30 câu lạc bộ cơ sở.

Thứ ba, giáo viên bộ môn Ngữ văn và Nghệ thuật tại các trường phổ thông: Luận văn là nguồn tư liệu thực tế sống động với nhiều ví dụ minh họa về ca dao, thơ lục bát và nghệ thuật ứng tác đối đáp, hỗ trợ đắc lực trong việc biên soạn bài giảng giáo dục địa phương.

Thứ tư, nghệ nhân dân gian, đạo diễn sân khấu và những người sáng tạo nội dung văn hóa: Khai thác tư liệu về trang phục cổ truyền, lề lối tạo Đúm và tục Mở mặt để dàn dựng các tiết mục biểu diễn nghệ thuật truyền thống hoặc sản xuất các sản phẩm truyền thông số quảng bá văn hóa dân tộc.

Câu hỏi thường gặp

Hát Đúm Phục Lễ có nguồn gốc lịch sử từ thời gian nào? Theo truyền thuyết dân gian và các khảo cứu văn bia thế kỷ XVI tại chùa Kiến Linh (năm 1563 và năm 1566), hát Đúm có xuất xứ từ lối hát ví vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng từ khoảng thế kỷ XIII thời nhà Trần và định hình không gian hội làng rõ nét từ thời nhà Mạc.

Tục bịt mặt và mở mặt của các cô gái Phục Lễ mang ý nghĩa gì? Thiếu nữ từ 15 đến 16 tuổi đội khăn che mặt để giữ gìn làn da trước nắng gió và bắt nguồn từ các huyền tích tâm linh vùng cửa sông Bạch Đằng. Khi tham gia hội xuân, các cô chỉ mở khăn cho chàng trai chiêm ngưỡng dung nhan nếu hai bên tìm thấy sự đồng điệu qua canh hát đối đáp.

Một cuộc hát Đúm truyền thống bao gồm những chặng nào? Một cuộc hát Đúm hoàn chỉnh diễn ra qua 3 chặng lề lối: Chặng 1 là hát vào đầu (chào hỏi, thăm hỏi), Chặng 2 là chặng chính thử tài (đố giảng, họa, huê tình, hát lính, hát thư, hát cưới), và Chặng 3 là hát kết thúc chia tay với tối thiểu từ 4 đến 6 bài bản mỗi chặng.

Điểm khác biệt nổi bật nhất giữa hát Đúm Phục Lễ và Quan họ Bắc Ninh là gì? Hát Đúm mang tính bộc trực, tự nhiên của cư dân miền biển với hành động nam nữ nắm tay nhau công khai trong suốt quá trình hát đối đáp và sử dụng nón, khăn, ô làm vật giao ước, khác với sự giữ kẽ, thanh lịch và lề lối nghiêm cẩn của Quan họ.

Công tác bảo tồn hát Đúm tại Thủy Nguyên hiện nay đạt kết quả ra sao? Địa phương đã khôi phục thành công hội thi hát Đúm thường niên từ mùng 2 đến mùng 6 tháng Giêng, duy trì hơn 10 câu lạc bộ nòng cốt tại các xã Phục Lễ, Phả Lễ, Lập Lễ, Tam Hưng và phát hành nhiều ấn phẩm đĩa nhạc phục vụ đông đảo nhân dân.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện 120 bài bản lời ca và xác lập các đặc trưng thi pháp của đề tài giao duyên trong hát Đúm Phục Lễ.
  • Nghiên cứu khẳng định giá trị lịch sử lâu đời từ thế kỷ XVI gắn liền với không gian văn hóa tâm linh chùa Kiến Linh và truyền thống yêu nước trên dòng sông Bạch Đằng.
  • Công trình làm sáng tỏ hình thức tạo Đúm, lề lối diễn xướng 3 chặng chặt chẽ và tập tục Mở mặt độc nhất vô nhị của cư dân vùng duyên hải.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược đồng bộ nhằm bảo tồn bền vững và phát huy giá trị di sản trong bối cảnh đương đại.
  • Cung cấp nguồn tư liệu học thuật đáng tin cậy, mở ra hướng tiếp cận liên ngành sâu sắc cho các công trình nghiên cứu văn học dân gian tiếp theo.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là công trình khoa học đầu tiên tiếp cận hát Đúm Phục Lễ một cách chuyên sâu dưới góc độ chuyên ngành Văn học Việt Nam. Lộ trình hành động giai đoạn 2025-2030 đòi hỏi sự chung tay quyết liệt của các cơ quan quản lý, nhà nghiên cứu và cộng đồng địa phương. Độc giả quan tâm hãy cùng tìm hiểu, trân trọng và lan tỏa giá trị của di sản văn hóa phi vật thể quý báu này đến với đông đảo công chúng trong và ngoài nước.