Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC Ý THỨC TỰ HỌC CHO SINH VIÊN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về giáo dục ý thức tự học 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Cuối thế kỷ XX, trong bối cảnh đào tạo tín chỉ chiếm ưu thế với quan điểm: “lấy người học làm trung tâm” của quá trình dạy và học, một loạt các nghiên cứu lý thuyết của các học giả nước ngoài về hoạt động tự học và năng lực tự học ra đời trong lĩnh vực khoa học giáo dục như các học thuyết của Holec (1981) [15], Little (1990) [23], Tudor (1996) [51], Benson (2001) [1], Oxford (2003) [42]. Dưới đây là một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến đề tài đang nghiên cứu: Kirmani & Siddiquah (2008) [16] đã nghiên cứu tác động của một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập của 353 SV của các ngành khác nhau thuộc trường Đại học Punjab, Lahore (Pakistan).
Hai tác giả này cho rằng, có 6 yếu tố chính tác động đến thành tích học tập của SV trong trường đại học: học thuật, cá nhân, phương tiện truyền thông, cơ sở vật chất, dịch vụ hỗ trợ và môi trường tổ chức. Nghiên cứu này có xu hướng khám phá và phân tích các yếu tố đặc trưng ảnh hưởng đến kết quả học tập của SV đại học. Trong đó, các tác giả cũng chỉ ra rằng, ảnh hưởng bởi đặc điểm cá nhân như ý thức, động lực, thái độ, năng lực, thói quen tự học, thậm chí cả sức khoẻ cũng có ảnh hưởng ít nhiều đến thành tích học tập của SV. Gross (2008) [11] đã nghiên cứu phương pháp học tập mới hơn, hiệu quả hơn, phát triển toàn diện hơn để tìm ra cách thức xây dựng kế hoạch học tập suốt đời.
Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tự học, đã đi từ những khám phá về khả năng tự học của bản thân người học để xây dựng kế hoạch học tập suốt đời, đạt được thành công như mong muốn trong sự nghiệp bằng cách xây dựng sự tự tin trong học tập, cải thiện phương pháp tự học, nâng cao thái độ, ý thức tự học, phát 6 triển óc phân tích và tư duy sáng tạo, thiết lập những dự án học tập cho riêng bản thân. Đặc biệt, tác giả đưa ra khái niệm invisible college (trường đại học vô hình). Đây là một cách nhìn khác tại Mỹ, một xã hội học tập không có nghĩa là tất cả mọi người đều phải đến trường. Đúng hơn, nó là một xã hội trong đó việc học tập và sự phát triển gắn liền với toàn bộ lĩnh vực hoạt động trong cuộc sống của con người, dù họ có đang tham gia vào các lớp học hay không.
Tác giả đã đưa ra những bài học từ chính kinh nghiệm của mình với những chia sẻ hướng dẫn hữu ích về kỹ năng tự học và xây dựng định hướng phát triển của mỗi cá nhân, thực sự mang lại cách nhìn mới và cách nghĩ mới về việc học. Win & Miller (2005) [55] đã nghiên cứu một số yếu tố có tác động quyết định đến kết quả học tập của 1.803 SV năm thứ nhất đang theo học 33 chuyên ngành tại trường Đại học Western Australia. Kết quả nghiên cứu này chỉ ra rằng, kết quả học tập của SV do 2 yếu tố chính quyết định, đó là yếu tố cá nhân và yếu tố môi trường học tập. Trong đó, yếu tố năng lực tự học của mỗi cá nhân được coi là yếu tố quan trọng nhất, tác động lớn đến kết quả học tập.
Nghiên cứu cũng cho thấy, điểm số đầu vào đại học và kết quả học tập của SV năm nhất có mối tương quan mạnh, thuận chiều với nhau, đồng thời không có sự khác biệt về nơi học (trường công, trường tư) trước khi SV vào đại học đối với kết quả học tập của SV. Rubakin (2004) [49] đã đi sâu nghiên cứu vấn đề tự học, cho rằng tự học không chỉ là xem sách mà phải biết so sánh cái viết trong sách với thực tế cuộc sống, biết so sánh cái khoa học với cái không khoa học, biết liên hệ giữa các môn khoa học với nhau, nghĩa là người học phải có phương pháp học và tính chủ động trong tự học. Không nên sợ bất đồng ý kiến với người khác, không nghiên cứu cái chung chung, mà phải nghiên cứu vấn đề đang được tranh luận - những vấn đề chủ yếu của thời đại, mở rộng tầm nhìn cho bản thân. Ông cũng phân tích rõ mối liên hệ giữa việc: “tự học và đặc tính riêng của từng người.” Ông cho rằng, việc học chỉ đem lại sự hưng phấn, hứng thú khi họ nhận được cái gì đó mới mẻ và thiết thực cho cuộc sống.
Trong đó, người học phải tin vào sức mạnh trí tuệ và khả năng của mình, phải nỗ lực hết sức để học một cách thường xuyên và có hệ thống, có như vậy 7 người học mới thu được kết quả học tập cao. Cuối cùng, ông kết luận: “Hãy mạnh dạn tự mình đặt ra câu hỏi rồi tự mình tìm lấy câu trả lời - đó chính là phương pháp tự học”. Hai tác giả này cho rằng, thời gian dự lớp có tác động thuận chiều đến kết quả học tập, nhưng không mạnh bằng số giờ tự học của SV và tùy theo từng đặc thù của môn học mà SV phân bổ thời gian hợp lý giữa tự học ở nhà và học trên lớp sẽ cho kết quả học tập tốt hơn. Ví dụ, đối với những môn học thiên về định tính (mang tính lý thuyết, hàn lâm) như Luật và Lịch sử kinh tế, việc phân bổ thời gian tự học ở nhà nhiều hơn sẽ cho kết quả học tập cao hơn so với các môn học mang tính thực hành, ứng dụng như Toán học và Kinh tế.
Các tác giả cũng đã xây dựng được mô hình lý thuyết phân bổ giữa thời gian học của SV và thành tích học tập, qua đó có thể dự báo được kết quả học tập của SV khi áp dụng thành công mô hình này. Petty (1998) [43] nghiên cứu các phương pháp dạy học hiện đại, đã đưa ra các cách tiếp cận tự học để giúp người học có động cơ, thái độ tự học cao bằng cách GV phải tích cực hỗ trợ và hướng dẫn SV trong việc tự học. Theo đó, để SV từng bước tự chủ trong việc tự học, GV cần biết cách thiết kế các bài tập tự học, có thể bắt đầu từ các nội dung đơn giản trong nội dung môn học. Tác giả còn đề cao vai trò giám sát của GV trong việc tự học của SV như: (1) cung cấp các nguồn tài liệu rõ ràng, cần thiết có liên quan đến môn học, (2) đánh giá lại thành quả của việc tự học của SV, và từ đó (3) đưa ra những điều chỉnh kịp thời cho các hoạt động tiếp theo.
Tudor (1996) [51] nghiên cứu phương pháp lấy người học làm trung tâm trong giảng dạy ngôn ngữ, đã xác lập rõ nhận thức về việc tự học và tự chịu trách nhiệm về kết quả học tập của người học qua học thuyết: “lấy người học làm trung tâm.” Nghĩa là, người học cần năng động trong học tập và nghiên cứu, cần có ý thức, thái độ và phương pháp tự học hiệu quả thì mới có thể đáp ứng được yêu cầu cao của việc học ở bậc đại học. Hai tác giả cho rằng, thời gian dành cho tự học, tự mày mò qua giáo trình, tài liệu của học viên lại không có mối quan hệ ý nghĩa gì đến kết quả điểm số. Tuy nhiên, các tác giả cũng đưa ra được một số phương pháp tự học giúp học viên nâng cao kết quả điểm số trong kỳ thi GRE, như đối với môn toán cần phải biết rõ loại câu trả lời nào cần mong đợi trước khi loại suy các phương án lựa chọn, không nên cố tìm câu trả lời chính xác nếu các đáp án chỉ là gần đúng, không nên quá chú tâm vào dữ kiện biểu đồ hình vẽ để tìm câu trả lời, cần thường xuyên luyện tập để cải thiện tốc độ trả lời câu hỏi. Những nghiên cứu ở trong nước Nghị quyết Hội nghị lần thứ II, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã khẳng định: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lỗi truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học.
Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy - học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học. Phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân, nhất là thanh niên.” Từ quan điểm chỉ đạo trên của Đảng, nhiều công trình nghiên cứu, quan điểm về tự học đã được các nhà nghiên cứu trong nước như Nguyễn Hiến Lê, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Cảnh Toàn. Các công trình nghiên cứu đó đã coi hoạt động tự học như chìa khóa của giáo dục trong thời đại bùng nổ thông tin, tiêu biểu là Quá trình dạy - tự học của Nguyễn Cảnh Toàn (1997) [30]; Bàn về chuyện tự học của Cao Xuân Hạo (2001) [4]; Tự học - một nhu cầu thời đại của Nguyễn Hiến Lê (2007) [32]. Dưới đây là một số công trình nghiên cứu trong nước có liên quan đến đề tài nghiên cứu, xoay quanh hoạt động tự học và giáo dục ý thức tự học cho sinh viên: Tô Minh Thanh và nhóm tác giả (2011) [50] đã khảo sát hiện trạng hoạt động tự học của 1.691 SV chính quy văn bằng 1 của 21 khoa/bộ môn trực thuộc trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM.
Nhóm nghiên cứu đề tài đã chỉ ra rằng, SV có ý 9 thức đúng về tầm quan trọng của hoạt động tự học đối với kết quả học tập: - Có kết quả học tập tốt (1.5%); - Rèn luyện khả năng làm việc độc lập (1.8%); - Chủ động và linh hoạt hơn trong việc học tập (1.7%); - Hiểu bài sâu sắc (1.234 ý kiến, chiếm 73%); - Giúp cho bản thân ham học (954 ý kiến, chiếm 56. Qua kết quả khảo sát, nhóm nghiên cứu đề tài còn nhấn mạnh, để việc tự học của SV đạt hiệu quả, ngoài những nỗ lực của chính người học, SV luôn cần sự hỗ trợ thường xuyên, có kế hoạch cụ thể và dưới nhiều hình thức khác nhau của GV phụ trách môn học, Thư ký/Giáo vụ khoa, Ban Cố vấn học tập, Ban Chủ nhiệm khoa, lãnh đạo và nhân viên các phòng/ban.