Chương 1. Những tiền đề lý thuyết và tổng quan nghiên cứu về người Nùng Dín ở Lào Cai. Nội dung và phương thức giáo dục trẻ em của người Nùng Dín Lào Cai. Biến đổi tri thức địa phương trong giáo dục trẻ em của người Nùng Dín Lào Cai hiện nay Ngoài ra, luận văn còn phần mục lục, tài liệu tham khảo và phụ lục.
5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ NGƢỜI NÙNG DÍN Ở LÀO CAI 1.Những tiền đề lý thuyết và tổng quan về tình hình nghiên cứu 1. Một số khái niệm cơ bản - Khái niệm “tri thức địa phương” Mặc dù đã đƣợc nghiên cứu từ lâu, nhƣng cho tới nay khái niệm tri thức bản địa hay tri thức truyền thống vẫn chƣa đƣợc thống nhất. Nói cách khác, tri thức bản địa - tri thức truyền thống đƣợc định nghĩa theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào các lĩnh vực chuyên môn và theo các mục đích sử dụng thuật ngữ khác nhau.
Năm 1978, Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) đã tiến hành nghiên cứu và lần đầu tiên đƣa ra khái niệm “tri thức truyền thống”. Ban đầu, khái niệm này chỉ giới hạn ở một loại tri thức (đƣợc coi là truyền thống) là “các hình thức thể hiện văn hóa dân gian” (Expressions of Folklore). Vào năm 1982, “các quy định mẫu dành cho luật quốc gia về bảo hộ các hình thức thể hiện văn hóa dân gian chống lại việc khai thác trái phép và những hành vi xâm phạm khác” đã đƣợc WIPO phối hợp với UNESCO soạn thảo và công bố, trong đó có định nghĩa về “các hình thức thể hiện văn hóa dân gian”. Đến nay thuật ngữ “tri thức truyền thống” không chỉ giới hạn ở “các hình thức thể hiện văn hóa dân gian” mà còn bao gồm các đối tƣợng khác nhƣ tri thức bản địa, kiến thức cổ truyền, kinh nghiệm dân gian… Để thống nhất về cách dùng thuật ngữ, trong Báo cáo về các cuộc khảo sát về sở hữu trí tuệ và tri thức truyến thống (1998-1999), dƣới góc độ sở hữu trí tuệ, WIPO đã định nghĩa “tri thức truyền thống” là các sản phẩm văn học, nghệ thuật hoặc khoa học dựa trên truyền thống; sự biểu diễn; các sáng chế; các phát minh khoa học; các kiểu dáng; các nhãn hiệu, tên và biểu tƣợng; các thông tin bí mật, và tất cả các sáng kiến hoặc sản phẩm sáng tạo khác là thành quả của hoạt động trí tuệ dựa trên truyền thống trong các lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học hoặc nghệ thuật.
Cụm từ “dựa trên truyền thống” đƣợc hiểu là các hệ thống tri thức, các sản phẩm sáng tạo, sáng kiến và các hình 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thức thể hiện văn hóa đƣợc lƣu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, thƣờng thuộc về hoặc gắn liền với một nhóm ngƣời cụ thể hoặc vùng lãnh thổ cụ thể nơi nhóm ngƣời đó sinh sống, đƣợc phát triển thƣờng xuyên để thích nghi với môi trƣờng biến đổi. Trong “Cẩm nang về tri thức bản địa” (tài liệu dịch), đƣợc NXB Nông nghiệp ấn hành năm 2000, một định nghĩa cũng đã đƣợc đƣa ra: Tri thức bản địa (còn có thể gọi bằng những tên khác như "kiến thức địa phương", "kiến thức kỹ thuật bản địa" hay "kiến thức truyền thống") là kiến thức mà người dân ở một cộng đồng đã tạo nên và đang phát triển dần theo thời gian. Ngoài các khái niệm kể trên, một số nƣớc cũng có các quy định riêng về thuật ngữ tri thức bản địa - tri thức truyền thống. Ở Việt Nam, vấn đề này cũng đƣợc nhiều nhà khoa học thuộc cả hai lĩnh vực - khoa học tự nhiên và khoa học xã hội - nhƣ Lê Trọng Cúc, Đào Trọng Hùng, Phạm Quang Hoan, Ngô Đức Thịnh… quan tâm.
Tuỳ theo cách hiểu của mình, họ cũng đƣa ra nhiều kháí niệm với những nội hàm khác nhau.TS Lê Trọng Cúc đồng nhất tri thức địa phƣơng với văn hoá truyền thống. Theo ông, “tri thức địa phương được tích luỹ qua kinh nghiệm to lớn nhờ tiếp xúc chặt chẽ với thiên nhiên, dưới áp lực chọn lọc, trong quá trình tiến hoá của sinh quyển và dần dần trở thành văn hoá truyền thống” [24, tr.TS Ngô Đức Thịnh lại gọi tri thức địa phƣơng là “tri thức dân gian” (Folklore Knowledge) và cho rằng, “đó là kinh nghiệm của con người tích luỹ được qua quá trình hoạt động lâu dài nhằm thích ứng và biến đổi môi trường tự nhiên và xã hội, phục vụ cho lợi ích vật chất và tinh thần cho bản thân” [90, tr.TS Phạm Quang Hoan cho rằng: Tri thức địa phƣơng đƣợc hiểu ở các cấp độ khác nhau. Một là, “tri thức địa phƣơng” (hay tri thức bản địa), “tri thức dân gian”, “tri thức tộc ngƣời” là toàn bộ những hiểu biết, những kinh nghiệm của một tộc ngƣời nhất định đƣợc tích lũy, chọn lọc và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Vốn tri thức đó phản ánh trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống cộng đồng để mỗi tộc ngƣời sinh tồn, 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phát triển và thích nghi trƣớc những biến đổi đã và đang diễn ra.
Nói cách khác, tri thức địa phƣơng là phƣơng thức ứng xử, là đặc tính thích nghi với những điều kiện sinh thái nhân văn của mỗi tộc ngƣời. Cũng có thể coi là bản sắc văn hóa tộc ngƣời. Hai là, “tri thức địa phƣơng” là tri thức của các cộng đồng tộc ngƣời cùng cộng cƣ trên một vùng sinh thái hay một vùng văn hóa nhất định. Trong trƣờng hợp này, tri thức địa phƣơng cũng phản ánh xu hƣớng giao lƣu và biến đổi văn hóa hay thích nghi văn hóa giữa các tộc ngƣời [42, tr.
Tuy nhiên, trên thực tế, các khái niệm “kiến thức bản địa” (Indigenouse Knowledge), “tri thức địa phƣơng” (Local Knowledge), “tri thức truyền thống” (Traditional Knowledge) và “tri thức dân gian” (Folklore Knowledge) đƣợc quan niệm gần nhƣ đồng nghĩa và thƣờng đƣợc sử dụng hoán đổi cho nhau mà không gây nên sự hiểu lầm. Trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ sử dụng tri thức địa phƣơng để chỉ những nội dung trên. Một cách khái quát có thể hiểu: Tri thức bản địa, tri thức truyền thống hay tri thức địa phƣơng là hệ thống tri thức mà ngƣời dân ở một cộng đồng tích lũy và phát triển dựa trên kinh nghiệm, đã đƣợc kiểm nghiệm qua thực tiễn và thƣờng xuyên thay đổi để thích nghi với môi trƣờng văn hóa, xã hội. - Khái niệm gia đình Có rất nhiều khái niệm về gia đình tuỳ thuộc vào góc độ nghiên cứu, xem xét, hƣớng tiếp cận, …mà có các khái niệm khác nhau: Tập thể các nhà khoa học do GS.
Trần văn Bính chủ biên có khái niệm về gia đình nhƣ sau: “Gia đình là một hình thức cộng đồng ngƣời, chủ yếu xây dựng trên quan hệ hôn nhân và huyết thống”. Liên hợp quốc định nghĩa: “Gia đình là đơn vị cơ bản của xã hội và là môi trƣờng tự nhiên cho sự phát triển và hạnh phúc của mọi thành viên”. Từ điển bách khoa Việt Nam đƣa ra khái niệm: “Gia đình là thiết chế xã hội dựa trên cơ sở kết hợp những thành viên khác giới, thông qua hôn nhân, để thực hiện các chức năng sinh học, kinh tế, văn hoá, xã hội, tín ngƣỡng,… là đơn vị kinh tế và là tế bào của xã hội”. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh lại khẳng định: “Gia đình là một hình thức cộng đồng xã hội đặc biệt, đƣợc hình thành, duy trì và củng cố trên cơ sở hôn nhân và huyết thống”.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2009 khẳng định: “Gia đình là tập hợp những ngƣời gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống, hoặc do quan hệ nuôi dƣỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền lợi giữa họ với nhau theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình”; “là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dƣỡng con ngƣời, là môi trƣờng quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Chỉ thị 49/CT-TW ngày 21/02/2005 của Ban bí thƣ Trung ƣơng Đảng (khoá IX) cũng đƣa ra: “Gia đình là tế bào của xã hội, là nơi duy trì nòi giống, là môi trƣờng quan trọng hình thành , nuôi dƣỡng và giáo dục nhân cách con ngƣời, là nơi bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống tốt đẹp, chống lại các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo về Tổ quốc”. Trong nghiên cứu xã hội hội học, các nhà nghiên cứu cho rằng: “Gia đình là một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở các quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc đƣợc nuôi dƣỡng tuy không có quan hệ máu mủ. Các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn hoá, tình cảm…).
Giữa họ có những ràng buộc có tính pháp lý đƣợc Nhà nƣớc thừa nhận và bảo vệ đồng thời có những quy định rõ ràng về quyền đƣợc phép và những cấm đoán trong quan hệ tình dục giữa các thành viên gia đình”. Dƣới khía cạnh xã hội học và về quy mô các thế hệ trong gia đình, cũng có thể phân chia gia đình thành hai loại: Gia đình lớn (gia đình ba thế hệ hoặc gia đình mở rộng) thƣờng đƣợc coi là gia đình truyền thống liên quan tới dạng gia đình trong quá khứ. Đó là một nhóm ngƣời ruột thịt của một vài thế hệ sống chung với nhau dƣới một mái nhà, thƣờng từ ba thệ hệ trở lên, tất nhiên trong phạm vi của nó còn có cả những ngƣời ruột thịt từ tuyến phụ. Dạng cổ điển của gia đình lớn là gia đình trƣởng lớn, có đặc tính tổ chức chặt chẽ.
Nó liên kết ít nhất là vài gia đình nhỏ và những ngƣời lẻ loi. Các thành 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com viên trong gia đình đƣợc xếp đặt trật tự theo ý muốn của ngƣời lãnh đạo gia đình mà thƣờng là ngƣời đàn ông cao tuổi nhất trong gia đình. Ngày nay, gia đình lớn thƣờng gồm cặp vợ chồng, con cái của họ và bố mẹ của họ nữa. Trong gia đình này, quyền hành không ở trong tay của ngƣời lớn tuổi nhất.
Gia đình nhỏ (gia đình hai thế hệ hoặc gia đình hạt nhân) là nhóm ngƣời thể hiện mối quan hệ của chồng và vợ với các con, hay cũng là mối quan hệ của một ngƣời vợ hoặc một ngƣời chồng với các con. Do vậy, cũng có thể có gia đình nhỏ đầy đủ và gia đình nhỏ không đầy đủ.