TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCM TRUNG TÂM GĨÁO DỤC QUỐC PHÒNG 'và THẺ CHẮT GĨẢO TRÌNH MÔN GIÁO DỤC THẺ CHẤT NĂM HỌC 2023-2024 GIÁO TRÌNH GIÁO DỤC THẺ CHẤT 2 GIÁO TRÌNH GIÁO DỤC THẺ CHẮT Sách dùng cho HSSV Trường Đại học Công nghiệp TP. HCM Giảng viên biên soạn: Th.s Nguyễn Minh Luận Th.s Nguyễn Phúc Thanh Phong Th.s Tạ Hồng Hà Th.s Nguyễn Thanh Liêm Th.s Trần Văn Tưởng Th.s Nguyễn Lâm Văn Luật CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC THỂ CHẤT PHẦN 1: Phần bắt buộc Bộ môn điền kinh: Giới thiệu bộ môn điền kinh - Chạy cự ly ngắn - Nhảy xa - Nhảy cao - Đẩy tạ PHẦN 2: Phần tự chọn - Bóng đá - Bóng chuyền - Bóng rổ - Võ thuật PHẦN 3: Bài đọc thêm 4 PHAN I Bộ MÔN ĐIỀN KINH Giói thiệu bộ môn điền kỉnh Điền kinh là môn thể thao có lịch sử phát triển lâu đời nhất, được ưa chuộng và phổ biến rộng rãi trên thế giới. Với nội dung phong phú và đa dạng, môn điền kinh chiếm một vị trí quan trọng trong chương trình giảng dạy môn giáo dục thể chất trong các trường phổ thông, các trường đại học và trường nghề.Nhiệm vụ cụ thể của các giờ thể dục thể thao trong nhà trường là giáo dục cho học sinh những hiểu biết và những kỹ năng cần thiết của sự tập luyện thể dục thể thao, tên cơ sở này đảm bảo phát triển thể lực toàn diện dđáp ứng cho nhu cầu học tập và lao động. Trong những bài tập nhằm phát triển thể lực toàn diện, các bài tập điền kinh đóng vai trò chủ yếu.
Những hình thức như chạy, nhảy, ném luôn được đưa vào trong từng giờ tập thể dục thể thao. KHÁI NIỆM VÀ PHẢN LOẠI MÔN ĐIỀN KINH : Điền kinh hiện đại bao gồm năm nhóm : Đi bộ thể thao, chạy, nhảy, ném - đẩy và nhiều môn phối hợp. Mỗi nhóm lại có nhiều dạng khác nhau: 1. Đi bộ thể thao : Được tiến hành trong sân vận động ở các cự ly : 3,5,10,15, 20, 50km.
trên đường nhựa ở các cự ly : 20,30 và 50km. Ngoài ra người ta còn tổ chức đi theo giờ : Igiờ, 2 giờ. Chạy: Cự ly ngấn : 3 Om đến 400m gồm : 100m, 200m, 400m. Cự ly trung bình : 500m đến 2.000m Chạy vượt chướng ngại vật : 100m rào (nữ), 11 Om rào (nam), 400m rào (nữ,nam), 3.000m vượt chướng ngại vật (28 rào + 7 rào có hố nước).
Chạy tiếp sức 4 X 100m, 4 X 400m, 4 X 1.500m Chạy trong điều kiện tự nhiên : Chạy Việt dã (tối đa là 15 km) Chạy Marathon : 42km 195 3. Nhảy : Nhảy qua chướng ngại vật thẳng đứng : Nhảy cao, nhảy sào. Nhảy chiếm chiều xa : Nhảy xa, nhảy ba bước. Ném, đẩy : Ném lao, ném đĩa, ném tạ xích, ném lựu đạn (VN) và Đẩy tạ.
Nhiều môn phối họp : Bao gồm: 5 môn của nam (Pentalong) thi trong một ngày theo trình tự : Nhảy xa, ném lao, chạy 200m, ném đĩa và chạy 1. 10 môn của nam (decaỉong) thi trong hai ngày liền theo thứ tự : ngày đầu : chạy 100m, nhảy xa, đẩy tạ, nhảy cao và chạy 400m. ngày sau : 110m rào, ném đĩa, nhảy sào, ném lao, chạy 1.500m 7 môn của nữ (heptalong) thi trong hai ngày liền theo thứ tự : Ngày đầu : Chạy 100m rào, nhảy cao, đẩy tạ, chạy 200m. Ngày sau : Nhảy xa, ném lao, chạy 800m.
Sự PHÁT TRIẺN KỸ THUẬT CỦA CÁC MÔN ĐIỀN KINH Với sự khát khao vươn tới đỉnh cao thành tích, các huân luyện viên và các nhà khoa học luôn tìm tòi những phương pháp có hiệu quả nhất để tập luyện và thi đấu điền kinh. Do vậy để đáp ứng với sự phát triển của thể thao ngày nay, Kỹ thuật các môn điền kinh có một số thay đổi như sau : Năm Thay đổi về kỹ thuật VĐV thực hiện Nước đầu tiên 1866 Phương pháp nhảy sào một nhịp G. ƯILER Anh 1887 Xuất phát thấp TR. SERIN Mỹ 1895 Nhảy cao kiểu cắt kéo(làn sóng) U.SƯINIEN Mỹ 1898 Nhảy xa kiểu cắt kéo M.PRINSTEIN Mỹ 1900 Ném đĩa quay vòng chưa hoàn chỉnh P.BAYLER Hunggari 1912 Ném đĩa quay vòng lấy đà hoàn chỉnh A.TAIPANE Phần lan 1920 Nhảy xa kiểu ưỡn thân B.TUULOS Phần lan 1924 Nhảy cao kiểu úp bụng B.VDOROV Liên xô 1926 Dùng bàn đạp xuất phát Mỹ 1952 Đẩy tạ lưng hướng ném P.OBRAEN Mỹ 1961 Nhảy cao úp bụng kiểu lặn V.BRƯMEN Liên xô 1968 Nhảy cao lưng qua xà R.PHOSBƯIƯRI Mỹ 1971 Đẩy tạ quay vòng A.BARƯNHICOP Liên xô 1971 Ném tạ xích 4 vòng đà quay nhanh ABONDATRUC Liên xô 6 CHẠY CỤ’ LY NGÁN I.
KỸ THUẬT CHẠY cự LY NGẤN : Chạy cự ly ngắn được chia một cách quy ước thành 4 giai đoạn : Xuất phát, chạy lao, chạy giửa quãng, về đích. Gỉaỉ doạn xuất phát: Trong chạy ngắn người ta thường áp dụng xuất phát thấp vì kỹ thuật này giúp VĐV sớm đạt được vận tốc cực đại trong khoảng thời gian ngắn. Để xuất phát nhanh người ta sử dụng bàn đạp xuất phát (hình 1). Bàn đạp xuất phát bảo đảm cho VĐV có điểm tì vững chắc để đạp sau, ổn định trọng tâm khi đặt chân vào bàn đạp.
Có 3 cách bố trí bàn đạp xuất phát cơ bản : (hình 2) a. Cách “thông thường” : Bàn đạp trước cách vạch xuất phát từ 1-1,5 bàn chân, bàn đạp sau cách bàn đạp trước một khoảng bằng độ dài cẳng chân. Cách “kéo dãn” : VĐV rút ngắn khoảng cách giữa hai bàn đạp còn một bàn chân hoặc ít hơn. Khoảng cách từ bàn đạp trước tới vạch xuất phát gần hai bàn chân (khoảng cách này được kéo dãn) c.
Cách “làm gần” : VĐV rút ngắn khoảng cách giữa hai bàn đạp còn một bàn chân hoặc ít hơn, song khoảng cách từ bàn đạp trước đến vạch xuất phát chỉ còn khoảng 1-1,5 bàn chân (như vậy khoảng cách từ bàn đạp sau đến vạch xuất phát sẽ gần lại) Việc đặt hai bàn đạp xuất phát gần nhau bảo đảm sự phân bổ lực đồng thời của cả hai chân khi bắt đầu chạy và tạo cho người chạy gia tốc lớn hơn ở những bước đấu, song vị trí gần nhau của hai bàn chân và việc đạp sau hấu như đồng thời của chúng gây trở ngại cho việc chuyển tiếp đạp sau luân phiên của từng chân ở những bước tiếp theo sẽ gần lại. Mặt tựa của bàn đạp trước nghiêng dưới góc 45 ° - 50 0 Mặt tựa của bàn đạp sau từ 60° - 80° .Góc nghiêng của mặt tựa bàn đạp tùy thuộc vào khoảng cách giữa bàn đạp và vạch xuất phát. 7 Khi nghe lệnh “vào chỗ” VĐV tiến lên phía trước vạch xuất phát, hai tay chống đất, hai chân thứ tự đặt vào bàn đạp, gối chân sau chạm đất. Hai tay : bốn ngón nhỏ khép kín, ngón cái choải ra hình chữ V đặt sát phía sau vạch xuất phát (ngón cái và các ngón còn lại tạo thành vòm) hai tay duỗi thẳng tự nhiên, thân trên thẳng, trọng lượng cơ thể được phân đều ở hai tay, chân chống trước và đầu gối chân sau.
Khi nghe lệnh “sẵn sàng” VĐV từ từ nâng hông lên cao bằng vai hoặc hơn vai một ít (tùy thuộc vào lực đạp hai chân của VĐV). Lưu ý là không nên dồn trọng tâm quá nhiều xuống 2 tay vì điều này sẽ làm tay rời đất chậm ảnh hưởng đến thời gian xuất phát. Khi nghe tiếng “súng nổ” VĐV nhanh chóng rời tay khỏi mặt đất, hai chân đạp mạnh vào bàn đạp, đùi chân sau nâng ra trước, tay ngược bên đánh lên cao để giữ thăng bằng Trong bước đầu tiên góc độ đạp sau của VĐV chạy ngắn cấp cao khoảng 42 °- 45 0. Đùi chân lăng tạo với thân trên một góc gần 30 ° tư thế trên giúp cho lực đạp đẩy cơ thể về trước nhiều hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho đạp sau mạnh và giữ được độ nghiêng của cơ thể trong những bước chạy đầu tiên.
Kỹ thuật động tác xuất phát thấp 2. Giai đoạn chạy ỉao : Đe đạt được thành tích tốt nhất trong chạy cự ly ngắn, điều rất quan trọng trong xuất phát là nhanh chóng đạt được tốc độ gần cực đại trong giai đoạn chạy lao. Thực hiện đúng và nhanh các bước chạy từ lúc xuất phát phụ thuộc vào độ lao của cơ thể dưới một góc nhọn so với mặt đường chay, cũng như sức mạnh, sức nhanh của VĐV. Bước đầu tiên được kết thúc bằng việc duỗi thẳng hoàn toàn của chân đạp sau khi ra khỏi bàn đạp trước và việc nâng đùi đồng thời của chân kia ta thấy rỏ độ nghiêng lớn khi xuất phát và việc nâng đùi chân lăng tới mức tối ưu tạo thuận lợi cho việc chuyển sang bước tiếp theo, kết thúc bằng việc tích cực hạ chân xuống dưới, ra sau và chuyển thành đạp sau nhanh, mạnh.
Trong một vài bước chạy đầu tiên, VĐV đặt chân trên đường chạy ở phía sau hình chiếu của trọng tâm, ở những bước tiếp theo, chân đặt trên hình chiếu của trọng tâm và sau đó thì đặt chân ra trước hình chiếu của trọng tâm. 8 Cùng với việc tăng tốc độ, độ nghiêng thân trên về trước từ từ giảm đi và kỹ thuật chạy lao từ từ chuyển sang kỹ thuật chạy giữa quãng. Thường bắt đầu từ khoảng 13-15 bước chạy, khi đạt được 90 - 95% tốc độ chạy tối đa, song không có giới hạn chính sác của chạy lao và chạy giữa quãng các VĐV cấp cao cần tính toán để đạt được được tốc độ cực đại ở mét thứ 55 -60m. Tay đánh mạnh về trước cũng có ý nghĩa đáng kể.
Trong chạy lao sau xuất phát, về cơ bản đánh tay cũng tương tự như trong giai đoạn chạy chạy giữa quãng nhưng với biên độ lớn hơn. kỹ thuật động tác trong giai đoạn chạy lao 3. Giai đoạn chạy giữa quãng : Khi đạt được tôc độ cao nhât, thân trên của VĐV chạy hơi đô vê trước (72° - 78°). Trong một bước chạy, độ nghiêng của thân trên có thể thay đổi.
Lúc đạp sau, độ nghiêng thân trên tăng lên còn trong pha bay thì giảm đi. chân đặt trên đường chạỵ có đàn tính, tiếp xúc bằng mũi chân. Khi chân chống chuyển vào tư thế đạp sau, đùi chân lăng đủ cao,đạp sau được thực hiện do duỗi chân chống ở khớp gối và cổ chân. Khi chạy giữa quãng cần tăng độ dài bước và tần số chân.
Tay đánh về trước hơi đưa vào trong và khi ra sau thì hơi mở, góc gấp ở của tay ở khớp khủy không cố định. Khi đánh ra trước thì gấp lại nhiếu nhất, khi đưa xuống dưới ra sau thì hơi duỗi ra .