Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục phòng chống rủi ro thiên tai cho người dân trên địa bàn huyện Chương 2: Thực trạng về giáo dục phòng chống rủi ro thiên tai trên địa bàn huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long Chương 3: Các biện pháp giáo dục phòng chống rủi ro thiên tai cho người dân trong cộng đồng tại huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long 9. Đóng góp của luận văn 9. Đóng góp lý luận Luận văn làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về giáo dục phòng chống rủi ro thiên tai cho người dân 9. Đóng góp thực tiễn - Giúp cho người dân nhận thức được các quá trình xảy ra thiên tai và nắm vững cách phòng chống hiệu quả.
- Chỉ ra được những khó khăn của người dân trong việc (tiếp nhận kiến thức) phòng chống rủi ro thiên tai - Chỉ ra được những khó khăn của CBQL và THV trong công tác giáo dục phòng chống rủi ro thiên tai cho cộng đồng dân cư huyện - Đề xuất biện pháp giáo dục góp phần phòng chống rủi ro thiên tai cho người dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG RỦI RO THIÊN TAI CHO NGƢỜI DÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về giáo dục phòng chống rủi ro thiên tai trên thế giới Trong những năm gần đây, trên thế giới ngày càng xuất hiện nhiều hiện tượng thiên tai với mức độ ngày càng tăng và kèm theo đó là thiệt hại cả về người lẫn của không thể ước đoán được như sóng thần, động đất, bão lụt… đây là những thiên tai một khi chúng xảy ra sẽ gây nên thiệt hại vô cùng lớn cho đời sống và kinh tế cuả người dân.
Nhật Bản là một quốc gia có nền kinh tế đứng thứ 3 trên thế giới, có mật độ dân số khá đông 340 người/km² và chất lượng cuộc sống thuộc nhóm nước có chất lượng cao, cũng là đất nước có nhiều thiên tai trên thế giới. Trung bình mỗi năm Nhật bản đón nhận bốn cơn bão đỗ bộ vào, và những trận động đất không thể đoán trước xảy ra hàng năm, cướp đi sinh mạng của hàng ngàn người và cuốn đi tất cả tài sản mà người dân tích góp được, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế cũng như xã hội nước này (Phạm Phú Thảo, 2016) [27]. Thảm hoạ kép sóng thần - động đất năm 2011 khiến gần 16,000 người thiệt mạng. Những trận động đất khoảng 4-5 độ richter thì diễn ra hằng ngày.
Tuy nhiên, thực tế là trong số những trận động đất mạnh từ 6 độ richter trở lên, số lượng thương vong đã giảm đáng kể so với trong quá khứ nhờ những biện pháp ứng phó hiệu quả. Kể từ năm 2011, Nhật Bản đã quyết định chọn ngày 1/9 là Ngày Phòng chống thảm hoạ quốc gia. Vào ngày này, hầu hết người dân Nhật Bản sẽ tham gia diễn tập thực tế với kịch bản các trận động đất mạnh xảy ra bao gồm vận chuyển người bị thương và các nhóm y tế giữa sân bay và các cơ sở của lực lượng phòng vệ sử dụng máy bay trực thăng và 6 máy bay vận tải. Kỹ năng chống chọi với thảm họa rất được đề cao tại Nhật, tất cả những người dân thường xuyên được tham gia những buổi diễn tập về cách ứng phó với thiên tai.
Ở Nhật Bản, chính phủ rất coi trọng công tác tuyên truyền về thảm họa, trên các đường phố, người ta dễ dàng bắt gặp các pa-nô, áp phích hướng dẫn người dân khi thảm họa xảy ra. Với quan điểm phải truyền lại cho thế hệ sau các bài học kinh nghiệm từ các thảm họa, cũng như phổ biến kinh nghiệm cho các nước để cùng hợp tác trong phòng chống, giảm nhẹ thiên tai, Chính phủ Nhật đã xây dựng nhiều bảo tàng, đài tưởng niệm, bia đánh dấu mức sóng thần… là những giáo cụ trực quan sinh động nhằm giáo dục và nâng cao ý thức của người dân về phòng chống thảm họa (Viện Nghiên cứu văn hóa truyền thông NHK, 2010) [53]. Theo Strategic Studies Center (2013), Thái Lan sau "trận lũ lụt tồi tệ nhất tính về lượng nước và số người dân chịu ảnh hưởng" kéo dài hai tháng bắt đầu từ cuối tháng 7/2011, đã có 307 ca tử vong, hơn 2,3 triệu người bị ảnh hưởng, với thiệt hại ước tính lên tới 156,7 tỷ baht (5,1 tỷ USD). Lũ tràn ngập khoảng 6 triệu ha đất, hơn 300.000 ha trong đó đất nông nghiệp, bảy khu công nghiệp lớn đã bị ngập sâu đến 3 mét và ước tính sẽ kéo dài khoảng 40 ngày.
Hậu quả để lại vô cùng nghiêm trọng sau cơn lũ quét. Sau đó, chính phủ Thái Lan đã tiến hành các biện pháp tích cực chủ động trong phòng chống thảm họa thiên nhiên, thể hiện qua việc thực hiện các biện pháp phòng tránh xa như: giáo dục, tuyên truyền để mọi người dân nhận thức được nguy cơ, tác hại của thiên tai, hạn chế những hành động do thiếu hiểu biết, thiếu trách nhiệm có thể gây ra thảm hoạ. Kịp thời tiến hành biện pháp phòng tránh như sơ tán, phân tán, dự trữ lương thực, thực phẩm. đề phòng khi có nguy cơ xảy ra thiên tai.
Điều này khiến cho chính quyền và người dân Thái Lan đã kịp thời khi lụt lớn lại xảy ra vào năm 2014 [55]. 7 Thực tế cho thấy, mọi cá nhân, tổ chức, không phân biệt hình thức sở hữu, hình thức tổ chức, đều chịu tác động của thiên tai. Khắc phục hậu quả thiên tai là rất cần thiết, nhưng đó mới giải quyết được phần ngọn. Do đó, các nước rất coi trọng công tác nghiên cứu nhằm giải quyết tận gốc, tìm cách hạn chế nguyên nhân dẫn đến thiên tai: như việc nghiên cứu tìm hiểu nguyên nhân, quy luật diễn biến, tác động và tìm biện pháp phòng tránh, đối phó phù hợp, hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả do thảm họa gây ra.
Các nước đều coi trọng cả phòng tránh và phòng chống; chuyển từ bị động đối phó sang chủ động phòng tránh, phòng chống và kịp thời khắc phục hậu quả thảm họa thiên nhiên. Do đó, công tác GDPCRRTT cho cộng đồng rất được xem trọng. Các nghiên cứu về giáo dục phòng chống rủi ro thiên tai tại Việt Nam Những năm gần đây, công tác giáo dục phòng chống thiên tai cho cộng đồng rất được quan tâm. Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa của khu vực Đông Nam Á, Việt Nam phải đối mặt với nhiều loại hình thiên tai khốc liệt, trong đó nhiều nhất là các loại thiên tai liên quan đến thời tiết.
Theo thống kê trong suốt 10 năm qua, bình quân mỗi năm thiên tai đã làm chết và mất tích khoảng 500 người, bị thương hàng nghìn người, thiệt hại về kinh tế từ 0,5 - 1,0% GDP và người nghèo là đối tượng dễ bị tổn thương nhất. Dưới tác động của biến đối khí hậu, thiên tai và các hiện tượng thời tiết bất thường xảy ra ngày càng nhiều, khó dự đoán và gây ra hậu quả nghiêm trọng (Bộ Giáo dục & Đào tạo, Live&learn và Plan tại Việt Nam, 2012) [4]. Nhận thức được tác động to lớn của thiên tai đến sự phát triển kinh tế và xã hội của đất nước, đặc biệt là đến sinh mạng của con người, Việt Nam đã ban hành các văn bản pháp luật và chính sách như: Chiến lược phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020, Đề án nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng (Đề án 1002), và Luật phòng chống thiên tai năm 2013, để khắc phục, phòng ngừa, ứng phó với thiên tai và thích ứng với 8 biến đổi khí hậu. Việc triển khai thực hiện cho công tác GDPCRRTT chỉ mới dừng lại ở công tác giáo dục cho cán bộ, chưa đi đến được với người dân.
Nhận thấy những nhu cầu cầu thiết trong công tác GDPCRRTT cho cộng đồng, các tổ chức xã hội đã hỗ trợ chương trình Phòng chống rủi ro thiên tai đã được đến với người dân một số tỉnh. Ngân hàng Thế giới xây dựng chương trình hỗ trợ Dự án Quản lý thiên tai (WB5) với Hợp phần 3 về Quản lý rủi ro thiên tai tại 10 tỉnh dự án thuộc khu vực duyên hải miền Trung. Tổ chức Oxfam xây dựng và thực hiện dự án “Phòng ngừa giảm nhẹ thiên tai có sự tham gia tại Tiền Giang và Đồng Tháp” nhằm giảm nhẹ tác động của lũ lụt đối với người dân nông thôn tại Tiền Giang và Đồng Tháp bằng cách nâng cao khả năng cuả cộng đồng [7]. Như vậy, GDPCRRTT đã được quan tâm triển khai cả trên thực tiễn, cả trong lĩnh vực nghiên cứu.
Đã có nhiều nghiên cứu về GDPCRRTT nhưng nghiên cứu về GDPCRRTT cho cộng đồng dân cư vẫn còn chưa nhiều. Do đó, nghiên cứu về GDPCRRTT cho cộng đồng dân cư huyện là một yêu cầu khách quan và cần thiết. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Rủi ro thiên tai Rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm hoặc chịu thiệt hại và mất mát phát sinh từ một hoặc nhiều sự kiện (Bộ Giáo dục & Đào tạo, Live&learn và Plan tại Việt Nam, 2012) [4].
Thiên tai là các hiểm họa tự nhiên tương tác với các điều kiện dễ bị tổn thương của xã hội làm thay đổi nghiêm trọng trong chức năng bình thường của một cộng đồng hay một xã hội, dẫn đến các ảnh hưởng bất lợi rộng khắp đối với con người, vật chất, kinh tế hay môi trường, đòi hỏi phải ứng phó 9 khẩn cấp để đáp ứng các nhu cầu cấp bách của con người và có thể phải cần đến sự hỗ trợ từ bên ngoài để phục hồi (IPCC, 2012) [54] Theo Tài liệu hướng dẫn dạy và học về ứng phó với biến đổi khí hậu thì rủi ro thiên tai là nguy cơ thiệt hại do thiên tai gây ra về người, tài sản, công trình, môi trường sống, các hoạt động kinh tế, xã hội [4] Ví dụ: Rủi ro thiên tai do bão gây ra có thể là nhà cửa tốc mái hoặc sụp đổ; người dân bị thiệt mạng hoặc thương tích; thuyền đánh cá bị phá hỏng; cây trồng bị ngã, mùa màng thất thu. Phòng chống rủi ro thiên tai * Năng lực phòng chống thiên tai Năng lực phòng chống thiên tai là tổng hợp các nguồn lực, điểm mạnh, và các điều kiện và đặc tính sẵn có trong cộng đồng, tổ chức và xã hội có thể được sử dụng nhằm đạt được các mục tiêu đề ra [49]. Ví dụ: Năng lực ứng phó (tổ chức di dời kịp thời, diễn tập, tổ chức thành lập các nhóm ứng phó nhanh, cứu hộ); Hệ thống công trình (nhà kiên cố, hệ thống đê điều); ý thức, kinh nghiệm, kỹ năng của cộng đồng và người dân.