MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Do khí hậu biên đôi bât thường, khó lường, cứ vào mùa mưa bão, người dân sinh sông trong khu vực ven dé, nhat là tại các diém bi sat lở, lại canh cánh noi lo về tài sản, tính mạng. Việc khắc phục các sự cô đê điêu là đòi hỏi cap bách trước mùa mưa bão. Trong những năm gan day, thiên tai diễn biến ngày càng phức tap, lũ lớn tại miền Bắc năm 1996, lũ lớn tại Trung Quốc năm 1998: mưa bão tập trung ở miễn Trung năm 1999; trận bão lich sử Linda ở miền Nam năm 1997 và cơn bão số 4 năm 2004 đã thé hiện rõ tính bất thường của thời tiết.
Mặt khác việc khai thác gỗ của rừng đầu nguồn đã làm lỗ tập trung trên các sông nhanh hơn, đường mực nước cũng dâng cao hơn cùng một cấp lưu lượng. Các nghiên cứu gần đây. tại Hà Nội mực nước tương ứng đều dâng lên khoảng 60 — 70cm, vùng cửa sông được nối dài và bồi lăng đã làm thay đổi lớn ảnh hưởng đến mực nước lũ vùng cửa sông ngày càng nâng cao. Hồ Hòa Bình từ ngày đưa vào vận hành cắt lũ đã phát huy rõ rệt nhưng cũng mới ở mức cắt lũ thường xuyên, chưa gặp tình thé cắt lũ lớn.
Việc thay đổi dòng chảy do tác động của điều tiết hồ Hòa Bình cũng kéo theo sự thay đổi lớn các động thái dòng chảy. Trên hệ thong dé song Duong thuộc địa ban Hà Nội tại vị trí cầu Đuống đã có hiện tượng sat lở dé nghiêm trọng vào ngày 13/08/2005 làm sập nhiều nhà dân. Hiện tượng sạt lở chân đê Đà Giang trên sông Đà. Trên hệ thống đê sông ở khu vực Bắc trung bộ tại các tuyến đê thuộc hệ thong sông Mã và sông Cả có chiêu cao khá lớn, mái dốc chưa có cơ, thân đê còn nhiều khuyết tật, nền đê nhiều đoạn là nền cát hoặc bùn; lòng sông có độ dốc lớn và diễn biến phức tạp, nhiều đoạn đê sát sông mà các sông này đều có cường suất lũ rất cao, lũ lên nhanh và xuống nhanh là yếu tố bất lợi đối với đê điều.
đã gây sạt lở nghiêm trọng nhiều đoạn bờ sông. Đặc biệt là bờ Hữu sông Thao, sông Chu, sông Mã làm nhiều cây cối, hoa mau và diện tích đất canh tác bị cuốn trôi. Đặc biệt xuất hiện cung trượt sat lở sát vào than dé gây mất an toàn đê điều và có nguy cơ ảnh hưởng trực trực tiếp đến tính mạng, tài sản của nhân dân 8 xã phía bắc huyện Hạ Hòa, 50 hộ dân khu Tân Hưng, thị trần Hưng Hóa và một SỐ CƠ quan như Trạm Viễn thông, Bưu điện, Ngân hàng chính sách xã hội, Trạm cấp nước Lữ đoàn 543. Do vậy việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến 6n định của mái dốc trong mùa mưa bão hàng năm là rất cần thiết để xử lý sự cô sat trượt đặc biệt nguy hiểm tại đoạn đê trên nhằm bảo vệ an toàn đê điều, tính mạng, tài sản của nhân dân tại khu vực sạt lở.
Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của luận văn là phân tích ứng xử của đất trong thân và nên đê do tác động của dòng chảy lũ đến ôn định mái của đê bao nói chung và từ đó tìm ra được giải pháp khoa học, kinh tế, hiện đại nhưng phù hợp với điều kiện Việt Nam để gia cường 6n định mái cho công trình thực tế. - Phân tích một số nguyên nhân chủ yếu gây trượt của các đê sông. - Tim được giải pháp tăng cường 6n định cho các đê có nguy cơ trượt. - Áp dụng bộ phần mềm Geo-Slope và Plaxis phân tích nguyên nhân gây sat lở cho tuyến đê Tả sông Chu đoạn từ K23+500+K25+100 (kè Cam Vân) thuộc các xã Thọ Trường, huyện Thọ Xuân, xã Thiệu Ngọc, Thiệu Vũ, huyện Thiệu Hóa.
Phương pháp nghiên cứu Phương pháp kế thừa, Phương pháp điều tra, khảo sát, Phương pháp phân tích thống kê, Phương pháp mô phỏng. Pham vi nghiên cứu Chủ yếu xét đến tinh mất 6n định của các tuyến đê bao thuộc đồng bằng sông Hong và sông Cửu Long. Ảnh hưởng của áp lực thủy động do độ chênh cột nước, sự thay đối chế độ mực nước theo mùa làm thay đổi tính chat cơ lý, thay đôi ứng suất biến dạng của đất đắp ảnh hưởng đến mức độ ồn định của công trình. TÔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH TRƯỢT LỞ CÁC TUYẾN DE 1.1 Tinh hình xây dựng hệ thống đê bao ở Việt Nam Việt Nam là một nước có hệ thong sông ngòi dày đặc.
Các khu dân cư, thành phố và vùng nông nghiệp thường phát triển dọc theo các vùng ven sông và thường chịu ảnh hưởng từ các yếu tố lũ và nguy cơ ngập lụt. Hệ thống đê dọc theo các nhánh sông là giải pháp phòng chống lũ đã được ông cha ta sử dụng từ lâu đời, để bảo vệ các vùng dân cư ven sông và toàn bộvùng châu thổ trước nguy cơ ngập lụt. Trải qua quá trình phát triển, hệ thống đê đến năm 2012 trên cả nước là một hệ thông công trình quy mô lớn với khoảng 13.200 km đê, trong đó có khoảng 10.600 km đê sông và gan 2. Các hệ thống đê sông chính với trên 2.500km đê từ cấp II đến cấp đặc biệt còn lại là đề dưới cấp III và đê chưa được phân cấp.
Trong đó: e Hệ thống đê Bắc bộ và Bac Trung bộ: dài 5.620km, có nhiệm vụ bảo vệ chống lũ triệt dé, bảo đảm an toàn cho vùng Đông băng Bắc bộ và Bac Trung bộ. e Hệ thống đê sông, cửa sông khu vực Trung Trung bộ va Nam Trung bộ: có tổng chiều dài 904km e Hệ thống đê sông, bờ bao khu vực Đồng bằng sông Cửu Long: có chiều dài 4.1 Phân loại dé a. Dé sông: Là những công trình dọc sông ngăn cách nước lũ và thủy triều ở biển dâng vào sông và các vùng được bảo vệ khỏi bị ngập. Dé biến: Là những công trình dọc ven bờ biển, ngăn cách nước biển với các vùng đất đã lần biển khỏi ngập nước mặn.
Dé ngăn lit: Loại đề này có nhiệm vu bảo vệ các khu vực sản xuất 3 vụ lúa, bảo vệ các trung tâm dân cư, thị xã, thị trần, thị tứ hoặc đê kết hợp với đường giao thông chính vượt lũ. Dé loại này, có chiều cao dap từ 4.0m, có khi đạt tới 10 m khi dap qua các sông, rạch. e Ở đồng bằng sông Hong có: - Hệ thong đê sông: Đến năm 2011, tông số chiều dài hệ thống đê sông trong vùng đồng bang Sông Hong là 3.417 km đê thuộc Bac Bộ, và 420 km ở các sông vùng Thanh - Nghệ. Hệ thống sông Hong có 1.667 km đê, va 750 km đê thuộc hệ thống sông Thái Bình.
Hệ thống đê sông Hồng có quy mô lớn và hoàn thiện hơn so với các hệ thong dé con lại. Cac đê sông thường có độ cao không qua 10 m. Chiều cao trung bình của đê sông từ 6-8 m, có nơi lên đến 11 m. Tuy nhiên hệ thống đê được xây dựng đã lâu đời trên nền đất yếu, đất dap đê cũng lấy từ dia phương và không đồng nhất, nhiều nơi bị hư hại vì thiếu bảo quản.
Nhiều kè cống rat cũ kỹ. Doc theo đê còn có nhiều ao hỗ làm nước lũ khó thoát. Dân cư quá đông đúc sống kế cận bờ đê. Ngày nay, nhiều nhà cửa xây cất ngay trên bờ đê.
Vì vậy đê có thê bị vỡ bât cứ lúc nào trong mùa lũ lớn. - Map of Red - Thai Binh river dykes system _j 21°N 408'£ 105 5°E 108°E 106.5°E 107°E Hình 1 - 1: Ban đồ hệ thống đê ở vùng đồng bang sông Hồng Hệ thông đê biển được thiết lập từ lâu đời và được xây đắp ngày càng vững chắc. Chiều dài tong cộng đê biển và cửa sông khoảng hon 1. Hiện nay, đê biển còn thấp (cao khoảng 5 m), nhiều nơi còn bằng đất, có noi bằng bê tông, và chỉ chịu được các cơn bão nhỏ.
Ngày nay, với kỹ thuật trồng rừng ngập mặn ngoài bờ đê, và cỏ Vetiver hai bên bờ đê có thể cản được sự phá hủy đê do sóng bão. e O đồng bằng sông Cửu Long có: Đề kiểm soát lũ, đến năm 2015 vùng ngập lũ ĐBSCL đã hình thành hệ thống đê và bờ bao với tong chiều dài khoảng 13.000 km bờ bao chống lũ tháng 8 để bảo vệ lúa Hè-Thu. Ngoài ra còn có hơn 200 km đê bao giữ nước chống cháy cho các Vườn Quốc gia và rừng tràm sản xuất tập trung sản xuất tập trung và các đê bao bảo vệ các thị tran và thị tứ. Dé kiểm soát mặn và triều cường:Vùng ven biên ĐBSCL đã xây dựng 450 km đê biển, 1.290 km đê sông và khoảng 7.000 km bờ bao ven các kênh rạch nội đồng để ngăn mặn, triều cường và sóng bão cho vùng ven biên.
> Vung Tả sông Tiên: Hệ thống đê, bờ bao cơ bản khép kín cho toàn bộ diện tích canh tác (mật độ khoảng 29.6 m/ha), song chủ yếu có quy mô bao vùng nhỏ, đắp bang dat tại chỗ, hàng năm sau mỗi mùa lũ đều bị sat lở, xuỗng cấp nên phải tu sửa thường xuyên. Hệ thống đê ngăn mặn vùng dự án Bảo Định xây dựng tương đối hoàn chỉnh. Vùng dự án giữa hai sông Vàm Cỏ, dự án 79 và Bắc Đông, hệ thống bờ bao chống lũ đầu vụ còn rất yếu kém, gần như cần phải xây dựng mới. > Ving giữa sông Tiền-sông Hậu: 1.748 km bờ bao/đê bao kiểm soát lũ; 281 km dé sông - cửa sông va 133 km đê biến.
Tuyến đê bién - cửa sông tuy đã hình thành nhưng còn thấp, yếu, cần tiếp tục nâng cấp, hoàn chỉnh. > Ving Tứ giác Long Xuyên: 4.485 km bờ bao/đê bao kiểm soát lũ và 63 km đê biển. Một số cụm công trình đáng chú ý là: - Cụm công trình thoát lũ ven biển Tây: Bao gồm tuyến đê biến Rạch Giá-Ba Hòn dài 75 km, rộng mặt 3 - 6 m, cao trình đỉnh +2.0 m; - Cụm công trình kiểm soát lũ dọc kênh Vĩnh Tế: Bao gồm tuyến đê ngăn lũ tràn biên giới từ Châu Đốc đến Tịnh Biên và từ Ba Chúc đến đầu kênh Hà Giang: Tuyến đê được đắp phía bờ Nam kênh Vĩnh Tế. - Hiện trạng hệ thong đê bao, bờ bao: Do năm trên băng thoát lũ nên ở vùng Tứ Giác Long Xuyên đã hình thành 2 loại đê bao: Đê bao kiểm soát lũ cả năm và bờ bao kiểm soát lũ tháng Tám.
Hiện An Giang có 103 ô bao kiểm soát lũ cả năm (tổng chiều dài đê bao 1.020 km), bảo vệ 40.899 ha đất 3 vu, 396 6 bao tháng Tám (tông chiêu dài 2.365 km), bảo vệ 97.234 ha đất 2 vụ.