phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm có ba chương như sau: 5 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi tại các trường mầm non. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi tại các trường mầm non huyện Tây Giang tỉnh Quảng Nam. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi tại các trường mầm non huyện Tây Giang tỉnh Quảng Nam. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI TẠI CÁC TRƢỜNG MẦM NON 1.
Tổng quan các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non 1. Các nghiên cứu của nước ngoài Vào năm 2000 đã tổ chức diễn đàn thế giới tại Senegal với chương trình hành động Dakar đã đề ra 6 mục tiêu, trong đó tại Mục tiêu 3 có nêu: "Mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trinh giáo dục kỹ năng sống phù hợp", tại mục tiều 6 yêu cầu: “Khi đánh giá chất lượng giáo dục cần phải đánh giá kỹ năng sống của người học" [9]. Cho nên, học KNS trở thành quyền của người học và chất lượng giáo dục phải được thể hiện cả trong kỹ năng sống của người học. Do đó, giáo dục KNS cho người học trở thành nhiệm vụ quan trọng của giáo dục các nước, vì thế vấn đề giáo dục KNS cho thế hệ trẻ nói chung, cho trẻ Mầm non nóỉ riêng được đông đảo các nước quan tâm.
Tại Hội nghị thượng đỉnh về trẻ em do Liên Hiệp Quốc tổ chức ở New York tháng 9-1990, cuốn sách Để con em vững bước vào đời - Pour un bondeparrt dán la vie” tác giả đã làm rõ nguyên tắc để cứu trẻ em sinh tồn, phải đi đôi với cố gắng làm sao cho cuộc sống ý nghĩa. Những người đang cố gắng bảo vệ, giáo dục và giúp các em trưởng thành cần lấy định đề nói trên làm kim chỉ nam [15, tr. Vào tháng 1 năm 1991 nhóm 4H của trường đại học A&M của Mỹ chuyên nghiên cứu và phát triển KNS trên các lứa tuổi. Nghiên cứu này cho thấy sự tham gia trong chương trình 4H là khá tích cực liên quan đến phát triển kỹ năng lãnh đạo và kỷ năng tự nhận thức cuộc sống.
Đồng thời cũng chỉ ra mức độ phát triển khả năng lãnh đạo cuộc sống [15, tr. Hiện nay, mặc dù giáo dục KNS cho thế hệ trẻ đã được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm và đưa vào chương trình dạy học cho trẻ dưới nhiều hình thức khác nhau, song nội dung giáo dục KNS được triển khai ở các nước vừa thể hiện được cái chung, vừa mang những nét riêng của từng quốc gia dân tộc. Những kinh nghiệm GDKNS trong nhà trường ở các nước cho thấy nó thúc đẩy mối quan hệ tích cực hơn giữa trẻ mầm non và giáo viên, đem đến hứng thú học tập cho trẻ do trẻ cảm thấy được tham gia vào những vần đề liên quan đến cuộc sống của bản thân, cũng như đem đến bầu không khí năng động hơn trong lớp học cũng như trong nhà trường như một số nước điển hình đã thành công trong việc GDKNS cho trẻ trong nhà trường nhưng vẫn được Tổ chức Y tế thế giới hoặc của UNESCO vẫn công nhận cách giáo dục KNS ở các nước đem lại thế hệ tương lai vững chắc cho mỗi quốc gia. 7 Đồng thời UNESCO đã đưa ra 3 nguyên tắc cơ bản để định hướng cho việc triển khai GDKNS trong thực tiễn đó là: quyền được học KNS; phát triển những KNS và đánh giá KNS.
Những nguyên tắc là cơ sở để giúp nhìn ra bốn trụ cột của giáo dục thế kỷ XXI: Học để biết; Học để là: Học để tự khẳng định mình và học để cùng nhau chung sống, đây chính là khung cấu trúc của một cách tiếp cận KNS trong giáo dục hiện nay. Do Thái là một trong những dân tộc ưu tú trên thế giới, đã sản sinh ra những danh nhân vĩ đại cho nhân loại. Người Do Thái luôn coi trọng sự phát triển tiềm năng, bồi dưỡng khả năng thiên phú cho trẻ, họ cho rằng trẻ từ 0-6 tuổi là thời kỳ đại não phát triển nhanh nhất, trẻ tiếp thu kiến thức nhanh nhất, giáo dục sớm chính là giúp trẻ phát triển hết năng lực tiềm ẩn, đặt nền tảng vững chắc cho trẻ sau này. Giáo dục mầm non Nhật Bản chú trọng rèn luyện kỹ năng giao tiếp.
Trẻ em được giáo dục về đạo đức không chỉ từ gia đình, nhà trường mà còn bởi xã hội. Trẻ mẫu giáo đã được rèn luyện thực hành đạo đức ngay trong các hoạt động hàng ngày và trở thành kỹ năng giao tiếp, các quy tắc ứng xử. Họ rất quan tâm đến môi trường nuôi dạy con cái; không bao giờ hình thành cho trẻ một thói quen xấu; tôn trọng trẻ em, luôn nói sự thật; chế độ ăn uống cho con phải cân bằng, không ép con ăn; bữa ăn phải được diễn ra trên ghế ăn và bàn ăn. Giáo dục Hoa Kỳ rất coi trọng tinh thần độc lập, tự lực của cá nhân, vì thế, ngay từ khi trẻ một tuổi rưỡi, họ đã bắt đầu dạy cho trẻ các kỹ năng tự phục vụ bản thân.
Họ cho rằng, nắm bắt các kỹ năng tự phục vụ có thể giúp trẻ tăng cường tính độc lập và cảm giác về sự thành công, nó không chỉ có lợi cho sự phát triển của trẻ mà còn giúp ích rất nhiều cho chính những người lớn. Bất cứ sự chăm sóc nào từ phía người lớn cũng phải tạo cho trẻ những cơ hội để rèn luyện cho trẻ các kỹ năng này. Đồng thời, họ cũng đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ của gia đình để giúp các kỹ năng mà trẻ được dạy ở lớp được rèn luyện và thực hành ngay tại nhà. Nhà khoa học hành vi – giáo sư tâm thần học người Mỹ tiến sĩ Gillbert Botvin đã công bố một chương trình đào tạo KNS có hiệu quả cao cho thanh thiếu niên từ lớp 7 đến lớp 9 vào năm 1979, chương trình được triển khai trong nhiều trường học khác nhau và đã thu được kết quả ấn tượng [31].
Như vậy, giáo dục kỹ năng sống đã được đưa vào chương trình tiểu học và trung học ở các nước phát triển từ khá sớm, nhằm thúc đẩy lối sống lành mạnh ở trẻ em, tạo nền tảng vững chắc cho các em khi bước vào tuổi trưởng thành. Các nghiên cứu trong nước Trong xu thế quốc tế “hợp tác với nhau”, UNESCO chủ trương đẩy mạnh phát triển giáo dục, đề cao “giáo dục trẻ em trước tuổi đến trường phải là một mục tiêu lớn 8 trong chiến lược giáo dục”, vì vậy GDMN càng ngày càng trở thành vấn đề quan tâm lớn của rất nhiều quốc gia. Đối với lịch sử giáo dục Việt Nam, KNS và vấn đề GDKNS cho con người biết đối nhân xử thế đã có mầm mống từ lâu như học ăn, học nói, học gói, học mở, học dăm ba chữ để làm người, học để đối nhân xừ thể, học để ứng phó với thiên nhiên với cuộc sống thường ngày. Đó là những kỹ năng đơn giản nhất mang tính chất kinh nghiệm, phù hợp với đời sống lúc bấy giờ Ở Việt Nam, việc giáo dục kỹ năng sống đã được quan tâm từ năm 1979.
Tuy nhiên, vấn đề này đến nay mới thật sự trở nên cấp thiết, vì những nguy cơ, thách thức của cuộc sống hiện đại đặt ra. Thuật ngữ KNS được người Việt Nam biết đến từ chương trình của UNICEF (1996) “Giáo dục KNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường”. Quan niệm về KNS trong chương trình này bao gồm những kỹ năng cốt lõi như: Kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng kiên định, kỹ năng đặt mục tiêu. do các chuyên gia Úc tập huấn.
Tham gia chương trình này có ngành GD và Hội Chữ thập đỏ. Sau này, chương trình mang tên “Giáo dục sống khỏe mạnh và KNS”. Ở Việt Nam việc giáo dục kỹ năng sống đã được tiếp cận cách đây hơn 10 năm và tác giả Nguyễn Thanh Bình và cộng sự của mình đã có những đề tài nghiên cứu và suất bản một số tài liệu về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống cho nhiều đối tượng khác nhau. Có thể xem, nhà nghiên cứu Nguyễn Thanh Bình là người đầu tiên có những nghiên cứu mang tính hệ thống về KNS và GD KNS ở Việt Nam với một loạt các công trình, bài báo đã mở ra những hướng nghiên cứu ở nước ta.
Tác giả nhấn mạnh: “Ở bậc Mầm non chú ý đến GD cho trẻ hành vi, kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng giao tiếp ứng xử. Đồng thời chú trọng đến các nội dung như: phát triển thể chất, nhận thức, phát triển ngôn ngữ, tình cảm, nghệ thuật và thẩm mỹ của trẻ. Trong tất cả các nội dung đều chứa đựng nội dung KNS” [6, tr. Tác giả Phạm Thị Châu và Trần Thị Sinh đã chỉ ra được những đặc điểm và sự khác biệt trong công tác quản lý ở bậc học này so với các bậc học khác.
Những yêu cầu đối với người quản lý ở bậc học này. “Đó là sự khác biệt hoàn toàn về thể trạng, tâm lý, sinh lý và tư duy” [7, tr. Ở Việt Nam, hoạt động giáo dục mầm non và quản lý hoạt động hoạt động giáo dục cũng nhận được sự quan tâm đông đảo của các nhà giáo và các nhà khoa học giáo dục đã tâm huyết với việc nghiên cứu mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non. Đến nay đã có nhiều tác giả, nhà nghiên cứu xuất bản nhiều sách giáo trình, các tài liệu tham khảo về hoạt động giáo dục và quản lý hoạt động giáo dục mầm non.
Đặc 9 biệt về phát triển tâm sinh lý trẻ mầm non của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Phan Thị Thảo Hương cũng đưa ra các phương pháp tổ chức hoạt động GDKNS phù hợp với độ tuổi mầm non [21]. Hiện nay đối với bậc mầm non, việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ chủ yếu được thực hiện trên cơ sở giáo dục tích hợp qua các môn học, qua hoạt động ngoài giờ lên lớp, qua các hoạt động tập thể, nhưng nó chỉ được xây dựng với hình thức lồng ghép vào các môn học.