Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục của nghiên cứu sinh Hồ Sỹ Hùng với đề tài "Giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ khuyết tật trí tuệ nhẹ 5 - 6 tuổi thông qua tổ chức trò chơi đóng vai ở trường mầm non", thuộc chuyên ngành Giáo dục học (Giáo dục mầm non), mã số 914.01, được thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Ngô Công Hoàn và PGS. Bùi Thị Lâm (năm 2020).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em (1989) và Tuyên bố Salamanca (1994) khẳng định quyền tiếp cận nền giáo dục bình đẳng của mọi trẻ em. Tại Việt Nam, chủ trương giáo dục hòa nhập (GDHN) cho trẻ khuyết tật trí tuệ (KTTT) nhẹ lứa tuổi 5 - 6 tuổi ngày càng mở rộng. Tuy nhiên, trẻ KTTT nhẹ thường gặp nhiều rào cản về ngôn ngữ biểu cảm và tiếp nhận, khó khăn trong kiểm soát hành vi, hạn chế về giao tiếp mắt và các phương tiện phi ngôn ngữ. Hoạt động chơi, đặc biệt là trò chơi đóng vai, giữ vai trò chủ đạo ở trẻ 5 - 6 tuổi nhưng chưa được khai thác hiệu quả trong môi trường hòa nhập. Thực tiễn cho thấy phần lớn giáo viên mầm non (GVMN) còn thiếu kỹ năng chuyên biệt, chủ yếu áp dụng phương pháp dạy học chung của trẻ bình thường cho trẻ KTTT nhẹ và thiếu tài liệu hướng dẫn cụ thể.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất các biện pháp giáo dục kĩ năng giao tiếp (KNGT) cho trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi thông qua tổ chức trò chơi đóng vai ở trường mầm non, hỗ trợ trẻ tương tác tốt hơn trong các hoạt động và chuẩn bị vào lớp 1.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu (3 nhiệm vụ đánh số theo văn bản):
    1. Nghiên cứu cơ sở lí luận của giáo dục KNGT cho trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi thông qua tổ chức trò chơi đóng vai.
    2. Nghiên cứu thực trạng giáo dục KNGT cho trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi thông qua tổ chức trò chơi đóng vai trong trường mầm non.
    3. Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp giáo dục KNGT cho trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi thông qua tổ chức trò chơi đóng vai ở trường mầm non.

Khách thể, đối tượng và giả thuyết khoa học

  • Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục KNGT cho trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi.
  • Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp giáo dục KNGT cho trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi thông qua tổ chức trò chơi đóng vai ở trường mầm non.
  • Giả thuyết khoa học: Trò chơi đóng vai là phương tiện có nhiều ưu thế để giáo dục KNGT cho trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi học hòa nhập ở trường mầm non. Nếu đề xuất và áp dụng các biện pháp trong quá trình tổ chức trò chơi đóng vai theo hướng tạo môi trường, tình huống kích thích giao tiếp, tương tác giữa trẻ KTTT với các bạn trong nhóm chơi, hỗ trợ cá nhân trẻ KTTT thực hành, luyện tập KNGT trong quá trình chơi đóng vai thì sẽ nâng cao được KNGT của trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi trong môi trường GDHN.

Phạm vi nghiên cứu

  • Khách thể khảo sát: 35 trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi và 150 giáo viên dạy ở các trường mầm non hòa nhập.
  • Địa bàn khảo sát: Các trường mầm non hòa nhập tại Thành phố Thanh Hóa, Huyện Tĩnh Gia, Huyện Quảng Xương, Huyện Thạch Thành (tỉnh Thanh Hóa).
  • Địa bàn thực nghiệm: 02 trường mầm non hòa nhập tại Thành phố Thanh Hóa, tập trung nghiên cứu sâu trên 03 trường hợp trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng hợp hệ thống công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo 4 nhóm nội dung chính:

1. Nghiên cứu về kĩ năng giao tiếp và sự phát triển của trẻ KTTT

  • Tầm quan trọng và cấu trúc KNGT: Karoline Gooden và Jacqui Kearns (2013) nhấn mạnh KNGT là nền tảng để trẻ KTTT khám phá thế giới và học các kĩ năng xã hội. Beisler, Frank, Gooden Caroline và Owen Hargie phân loại các nhóm KNGT cơ bản (hiểu, bày tỏ suy nghĩ, biểu đạt cảm xúc, trao đổi thông tin). Rae Pica (2010) tiếp cận chuyển động cơ thể như một phương tiện giao tiếp.
  • Mối liên hệ giữa giao tiếp và các lĩnh vực phát triển: Hebbeler, Spiker, Bailey, Scarborough, Mallik, Simeonsson & Singer (2007), Hebbeler (2009), Landa, Holman, O’Neill, & Stuart (2010) chứng minh KNGT tác động trực tiếp đến nhận thức và kĩ năng cảm xúc - xã hội. Rahil Mahyuddin và Habibah Elias (2010) tại Malaysia chỉ ra tương quan thuận giữa KNGT và kỹ năng xã hội, kết quả học tập. Bredekamp & Copple (1997), Hart & Risley (1995) khẳng định vai trò của môi trường giao tiếp sớm.
  • Khó khăn và rối loạn giao tiếp: Sunish (2013), Kaiser & Hester (1997), Jennifer & Mark Wolery (2003) phân tích tình trạng nghèo nàn về vốn từ và sự thụ động trong hội thoại. Tager-Flusberg & Sullivan (1998) chỉ ra trẻ KTTT ở lứa tuổi mầm non có vốn từ rất hạn hẹp; phân biệt đặc điểm phát âm khó khăn ở hội chứng Down và khó khăn sử dụng ngôn ngữ nói ở hội chứng Fragile X. Lesser & Hassip (1986) thống kê trẻ KTTT có tỷ lệ rối loạn ngôn ngữ biểu cảm từ 3 - 10%, rối loạn ngôn ngữ tiếp nhận từ 1 - 13%, tổng rối loạn ngôn ngữ và giao tiếp lên đến 55%. Harel và cộng sự (1996) ghi nhận 40% trẻ KTTT chuyển tuyến nhi khoa bắt nguồn từ rối loạn ngôn ngữ và diễn đạt. Rosenberg, S. (1993), Abbeduto & Rosenberg (1993), Beeghly và cộng sự (1990), Kelley & Tager-Flusberg (1994) ghi nhận hạn chế về khả năng duy trì chủ đề, giao tiếp mắt, luân phiên và kiểm soát cảm xúc hội thoại.
  • Tác động của môi trường giáo dục: Steven Gutstein (2002), David Warden & Donald Christie (1997), Tara Winterton (2006) chỉ rõ vai trò của tương tác gia đình - nhà trường trong việc điều chỉnh hành vi và ngôn ngữ cho trẻ KTTT.

2. Nghiên cứu về cách thức giáo dục KNGT cho trẻ KTTT

  • Sử dụng trò chơi: Doris Bergen (2002), Raman Sutha & Lin Marisa (2015), Sunish (2013) khẳng định trò chơi đóng vai giúp phát triển cả ngôn ngữ nói và giao tiếp phi ngôn ngữ.
  • Kể chuyện và can thiệp sớm: Russu CS, Corina Florina & Carroll Valeria (2007) nhấn mạnh phương pháp storytelling. Pelin Pistav Akmese & Nilay Kayhan (2016) phân tích tương tác gia đình giúp giảm lo âu của phụ huynh. Udeme Samuel Jacob, Bailey & Hebbeler (2005), Haris Memisevic & Selmir Hadzic (2013), McIntosh và cộng sự (2007) đề xuất 3 quy tắc trị liệu: can thiệp sớm từ tuổi mẫu giáo, phối hợp đa chuyên ngành (chuyên gia trị liệu ngôn ngữ, tâm lý, giáo viên) và đánh giá định kỳ thường xuyên.

3. Nghiên cứu về trò chơi đóng vai của trẻ KTTT

  • Cơ sở từ lý thuyết hoạt động và phát triển tâm lý của Lev Vygotsky (1967, 1976), Jean Piaget (1962), Gardner (1983), Hurwitz (2002), D. Singer (2009), Ashiabi (2007), Ginsburg (2007), Hirsh-Pasek và cộng sự (2009), Lillard (2011a).
  • Đặc điểm chơi của trẻ KTTT: Dandhi Kuswardhana, Hughes C. (1973), Johnson, Christie & Yawkey (1999) nhận thấy trẻ KTTT có xu hướng thao tác đồ vật đơn giản, lặp lại, ít yếu tố tưởng tượng và gặp khó khăn khi phối hợp nhóm. Juliene Madureira Ferreira, Marita Mäkinen, Kátia de Souza Amorim (2016) ghi nhận tương tác nhóm giúp trẻ Down phát triển ý tưởng chơi. Sandrine Vieillevoye & Nathalie Nader-Grosbois (2007), Cuskelly, Zhang & Gilmore (2003) nghiên cứu chức năng tự điều chỉnh (self-regulation) thông qua chơi giả vờ (pretend play).
  • Mối liên hệ giữa chơi và ngôn ngữ: Vicky Lewis, Jill Boucher, Laura Lupton, Samantha Watson (2000), Rebecca R. Fewell & Tamiko Ogura (1997), Ciara O’Toole & Shula Chiat (2005) khẳng định mối tương quan chặt chẽ giữa chơi biểu tượng và ngôn ngữ tiếp nhận, ngôn ngữ diễn đạt.

4. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam và khoảng trống của đề tài

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về KNGT cho trẻ mầm non không khuyết tật được thực hiện bởi Nguyễn Thị Thu Hà (2016), Phạm Thị Thu Thủy (2016), Nguyễn Minh Ngọc (2017). Nghiên cứu về can thiệp trẻ khuyết tật có: Nguyễn Thị Hoàng Yến (2010) về đặc điểm giao tiếp của trẻ KTTT; Bùi Thị Lâm (2011) về phát triển ngôn ngữ cho trẻ khiếm thính qua trò chơi; Trần Thị Minh Thành (2013, 2018) về trò chơi xây dựng và ngôn ngữ diễn đạt cho trẻ KTTT; Nguyễn Thị Thanh (2014) về KNGT cho trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi; Nguyễn Thị Kim Anh (2018) về kỹ năng xã hội cho trẻ tự kỷ; Đinh Nguyễn Trang Thu (2017) về KNGT của học sinh KTTT học hòa nhập ở tiểu học.

Khoảng trống nghiên cứu: Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên biệt, hệ thống về các biện pháp giáo dục KNGT cho trẻ KTTT nhẹ lứa tuổi 5 - 6 tuổi thông qua tổ chức trò chơi đóng vai trong bối cảnh lớp mẫu giáo hòa nhập ở Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và các khái niệm công cụ

  1. Tiếp cận chẩn đoán KTTT: Dựa trên Sổ tay Chẩn đoán và Thống kê Rối loạn Tâm thần phiên bản DSM-IV và DSM-V. Trẻ KTTT nhẹ có mức độ suy giảm trí tuệ nhẹ (IQ trong khoảng 50-55 đến 69 theo trắc nghiệm chuẩn hóa), gặp khó khăn nhất định trong các lĩnh vực hành vi thích ứng (khái niệm, xã hội, thực hành) nhưng có khả năng học tập và hòa nhập nếu được hỗ trợ.
  2. Khái niệm Kỹ năng và Giao tiếp: Luận án tổng hợp quan điểm của V. Cruchetxk, N. Platonov, Xavier Roegiers, Kevin Barry, Ngô Công Hoàn, Trần Trọng Thủy, Nguyễn Thạc, Nguyễn Quang Uẩn.
    • Kĩ năng giao tiếp: Là khả năng sử dụng hợp lí các phương tiện giao tiếp bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ nhằm giúp chủ thể thực hiện có kết quả việc tiếp nhận và trao đổi thông tin, cảm xúc với đối tượng và nội dung giao tiếp.
    • Kĩ năng giao tiếp của trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi: Khả năng sử dụng hợp lí các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ để tiếp nhận, biểu đạt thông tin, cảm xúc trong các hoạt động hàng ngày tại trường mầm non.
  3. Khung 5 nhóm kĩ năng giao tiếp được đo lường:
    • Kĩ năng chú ý lắng nghe.
    • Kĩ năng luân phiên trong giao tiếp (turn-taking).
    • Kĩ năng hiểu ngôn ngữ trong giao tiếp.
    • Kĩ năng sử dụng ngôn ngữ nói.
    • Kĩ năng sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ (ánh mắt, nét mặt, cử chỉ, tư thế).
  4. Trò chơi đóng vai: Là hoạt động mô phỏng các mối quan hệ xã hội của người lớn thông qua chủ đề chơi, vai chơi, hành động chơi và đồ chơi thay thế. Cấu trúc gồm 4 thành phần: Chủ đề chơi, Vai chơi và hành động chơi, Đồ chơi/hoàn cảnh chơi, Quan hệ chơi giữa các trẻ.

Phương pháp tiếp cận nghiên cứu

Luận án vận dụng tích hợp 5 quan điểm tiếp cận:

  • Tiếp cận giáo dục hòa nhập: Đảm bảo mục tiêu phát triển cá nhân của trẻ KTTT đồng thời duy trì mục tiêu chung của lớp học.
  • Tiếp cận hoạt động: Đặt sự hình thành KNGT vào quy trình tương tác thực tế của hoạt động chơi đóng vai.
  • Tiếp cận phát triển: Tôn trọng tính kế thừa, nâng cao từng bước từ kỹ năng hiện có lên vùng phát triển gần nhất.
  • Tiếp cận cá biệt hóa: Điều chỉnh mục tiêu, khối lượng và biện pháp hỗ trợ dựa trên năng lực và nhu cầu cụ thể của từng trẻ KTTT.
  • Tiếp cận thực tiễn: Căn cứ trực tiếp vào điều kiện cơ sở vật chất, năng lực đội ngũ GVMN và thực trạng địa phương.

Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các nguồn tài liệu trong nước và quốc tế.
  • Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Điều tra bằng phiếu hỏi: Khảo sát 150 GVMN và cán bộ quản lý (CBQL) tại các cơ sở mầm non hòa nhập.
    • Quan sát sư phạm: Theo dõi biểu hiện KNGT của 35 trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi trong các hoạt động chơi đóng vai.
    • Phỏng vấn sâu: Trao đổi với GVMN về những thuận lợi, khó khăn và biện pháp đang áp dụng.
    • Nghiên cứu trường hợp: Đánh giá sâu hồ sơ phát triển và hành vi giao tiếp của 03 trẻ KTTT nhẹ điển hình.
    • Thực nghiệm sư phạm: Tiến hành can thiệp thực nghiệm có đối chứng, đánh giá trước thực nghiệm (TTN) và sau thực nghiệm (STN qua 2 giai đoạn: STN lần 1, STN lần 2).
  • Phương pháp thống kê toán học: Dữ liệu định lượng được phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0 để tính toán điểm trung bình (Mean), độ lệch chuẩn (SD), thứ bậc xếp hạng, hệ số tương quan và kiểm định so sánh sự tiến bộ giữa các giai đoạn thực nghiệm.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA GIÁO DỤC KĨ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ NHẸ 5 - 6 TUỔI THÔNG QUA TỔ CHỨC TRÕ CHƠI ĐÓNG VAI

Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ khung lý thuyết của luận án, tập trung vào các nội dung:

  • Đặc điểm phát triển của trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi: Thể chất có sự phối hợp vận động tinh chưa khéo léo (cầm bút, kéo, thìa xúc); Nhận thức thiên về trực quan cụ thể, tư duy trừu tượng hạn chế, khả năng tri giác không gian kém, ghi nhớ máy móc chiếm ưu thế, khó nhớ nhanh quên; Ngôn ngữ vốn từ nghèo nàn, phát âm ngọng, câu ngắn thiếu liên từ, trả lời câu hỏi "ai, cái gì" tốt hơn câu hỏi giải thích "tại sao, như thế nào"; Tình cảm - xã hội dễ có phản ứng thụ động hoặc bốc đồng, e ngại giao tiếp, khó tự khởi xướng tương tác với bạn bè.
  • Bản chất và cấu trúc KNGT của trẻ KTTT nhẹ: Trẻ có xu hướng giao tiếp một chiều, xao nhãng, ngắt lời người khác hoặc thụ động chờ đợi, giao tiếp mắt kém ổn định, hạn chế diễn đạt cử chỉ điệu bộ hỗ trợ lời nói.
  • Cơ chế tác động của trò chơi đóng vai: Đóng vai tạo ra các tình huống giao tiếp giả định (bác sĩ - bệnh nhân, người bán - người mua, mẹ - con). Khi nhập vai, trẻ KTTT được đặt vào môi trường buộc phải lắng nghe bạn chơi, thực hiện nguyên tắc luân phiên lượt lời, tiếp nhận mệnh lệnh chơi và sử dụng ngôn ngữ/cử chỉ để thực hiện hành động chơi.
  • Các yếu tố ảnh hưởng: Môi trường lớp học hòa nhập, thái độ của giáo viên, sự chấp nhận của bạn bè bình thường, đồ dùng đồ chơi và sự phối hợp giữa gia đình với nhà trường.
+---------------------------------------------------------------------------------------+
|                CẤU TRÚC KHUNG ĐÁNH GIÁ 5 NHÓM KNGT TRONG LUẬN ÁN                      |
+-------------------+-------------------------------------------------------------------+
| Nhóm KNGT         | Chỉ báo hành vi đo lường                                          |
+-------------------+-------------------------------------------------------------------+
| 1. Chú ý lắng nghe| Duy trì hướng nhìn, lắng nghe giáo viên/bạn nói, không ngắt lời   |
| 2. Luân phiên     | Chờ đến lượt nói, luân phiên hành động chơi theo kịch bản          |
| 3. Hiểu ngôn ngữ  | Thực hiện đúng chỉ dẫn lời nói, hiểu câu hỏi và ngữ cảnh chơi     |
| 4. Dùng lời nói   | Phát âm rõ, dùng câu đủ nghĩa, trả lời và đặt câu hỏi phù hợp     |
| 5. Phi ngôn ngữ   | Duy trì tiếp xúc mắt (eye contact), biểu cảm nét mặt, dùng cử chỉ |
+-------------------+-------------------------------------------------------------------+

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA GIÁO DỤC KĨ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ NHẸ 5 - 6 TUỔI THÔNG QUA TỔ CHỨC TRÕ CHƠI ĐÓNG VAI

Chương 2 phản ánh kết quả khảo sát thực trạng giáo dục hòa nhập và KNGT của trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi tại tỉnh Thanh Hóa:

  • Thực trạng nhận thức của GVMN: Đa số GVMN và CBQL nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục KNGT cho trẻ KTTT nhẹ (thể hiện qua Biểu đồ 2.3 và 2.4). Tuy nhiên, nhận thức về khả năng thực tế của trẻ KTTT khi tham gia các hoạt động giáo dục còn phiến diện, nhiều giáo viên còn e ngại trẻ không theo kịp chương trình.
  • Thực trạng sử dụng biện pháp và hoạt động: Mức độ sử dụng trò chơi đóng vai để giáo dục KNGT còn hạn chế và mang tính hình thức. Giáo viên chủ yếu dùng các biện pháp quen thuộc dành cho trẻ bình thường (nhắc nhở trực tiếp, làm mẫu chung) mà thiếu các kỹ thuật can thiệp cá biệt hóa (chia nhỏ bước chơi, giao nhiệm vụ vai phù hợp năng lực, hỗ trợ gợi ý ngôn ngữ).
  • Khó khăn của giáo viên: Thiếu kiến thức chuyên môn về giáo dục đặc biệt; Lớp học hòa nhập quá đông học sinh; Thiếu phương tiện, học liệu chuyên biệt; Thời gian dành riêng cho trẻ KTTT trong giờ chơi nhóm bị hạn chế (Biểu đồ 2.5).
  • Thực trạng KNGT của 35 trẻ KTTT nhẹ khảo sát:
    • Điểm trung bình của cả 5 nhóm KNGT đều ở mức trung bình thấp và yếu.
    • Thứ bậc xếp hạng các kỹ năng: Kỹ năng chú ý lắng nghe và kỹ năng hiểu ngôn ngữ đạt mức độ cao hơn; trong khi kỹ năng luân phiên, kỹ năng sử dụng ngôn ngữ nói và kỹ năng sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ (đặc biệt là liên hệ mắt và biểu cảm nét mặt) xếp ở thứ bậc thấp nhất.
    • Phân tích tương quan (Bảng 2.12) cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa mức độ hiểu ngôn ngữ và khả năng diễn đạt ngôn ngữ nói, cũng như sự tương hỗ giữa kỹ năng chú ý lắng nghe và kỹ năng luân phiên trong hội thoại nhóm.
+---------------------------------------------------------------------------------------+
|          TỔNG HỢP NỘI DUNG VÀ BIỂU HIỆN THỰC TRẠNG KNGT CỦA TRẺ KTTT NHẸ (N=35)       |
+--------------------------+------------------------------------------------------------+
| Nhóm KNGT khảo sát       | Biểu hiện thực trạng ghi nhận trong luận án                |
+--------------------------+------------------------------------------------------------+
| Kỹ năng chú ý lắng nghe  | Dễ phân tán bởi tác nhân bên ngoài, thời gian chú ý ngắn   |
| Kỹ năng luân phiên       | Thiếu kiên nhẫn chờ lượt, hay chen ngang hoặc bỏ chơi      |
| Kỹ năng hiểu ngôn ngữ    | Hiểu câu ngắn đơn giản, gặp khó khăn với câu mệnh lệnh kép |
| Kỹ năng dùng ngôn ngữ nói| Vốn từ hạn hẹp, nói ngọng, thiếu câu diễn đạt chủ động     |
| Kỹ năng phi ngôn ngữ     | Giao tiếp mắt không bền vững, biểu cảm nét mặt đơn điệu    |
+--------------------------+------------------------------------------------------------+

CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KĨ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ NHẸ 5 - 6 TUỔI THÔNG QUA TỔ CHỨC TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI VÀ THỰC NGHIỆM

Chương 3 xây dựng hệ thống biện pháp can thiệp sư phạm và trình bày kết quả thực nghiệm:

1. Hệ thống 4 nguyên tắc xây dựng biện pháp

  • Đảm bảo mục tiêu giáo dục chung cho tất cả trẻ và mục tiêu giáo dục trẻ KTTT: Giữ vững mục tiêu chương trình giáo dục mầm non, đồng thời điều chỉnh mục tiêu cá nhân cho trẻ KTTT nhẹ.
  • Đảm bảo tính phù hợp với trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi: Nội dung vai chơi, hành động chơi tương thích với khả năng nhận thức, ngôn ngữ và thể lực của trẻ.
  • Đảm bảo tính khoa học và thực tiễn giáo dục hòa nhập trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi: Biện pháp có cơ sở tâm lý học vững chắc, dễ vận dụng trong điều kiện lớp học mầm non hiện nay.
  • Đảm bảo tính phát triển: Hướng tác động đến vùng phát triển gần nhất, không dậm chân tại chỗ ở các kỹ năng đã thuần thục.

2. Hệ thống các nhóm biện pháp đề xuất

Luận án cấu trúc các biện pháp thành 3 nhóm gắn kết chặt chẽ:

  • Nhóm biện pháp chuẩn bị:
    • Biện pháp 1: Xây dựng môi trường chơi đóng vai thân thiện, giàu kích thích ngôn ngữ và giao tiếp (bố trí góc chơi mở, trang bị đồ dùng trực quan, thẻ tranh giao tiếp, đồ chơi thay thế).
    • Biện pháp 2: Chuẩn bị tâm thế, vốn kinh nghiệm sống và kỹ năng chơi ban đầu cho trẻ KTTT nhẹ trước khi bước vào trò chơi (cho trẻ làm quen đồ vật, giới thiệu trước các vai chơi và lời thoại đơn giản).
  • Nhóm biện pháp tác động (nhóm cốt lõi):
    • Biện pháp 3: Lựa chọn và điều chỉnh chủ đề chơi, vai chơi, hành động chơi phù hợp với năng lực giao tiếp của trẻ KTTT nhẹ (chọn các vai quen thuộc: bác sĩ khám bệnh, người bán hoa quả, chú thợ xây, mẹ nấu cơm).
    • Biện pháp 4: Tổ chức các tình huống giao tiếp kích thích tương tác giữa trẻ KTTT nhẹ với các bạn cùng chơi (tạo tình huống bất ngờ, thiếu đồ dùng chơi để trẻ phải hỏi, xin, thương lượng hoặc trả lời bạn).
    • Biện pháp 5: Sử dụng linh hoạt các kỹ thuật hỗ trợ cá nhân (làm mẫu lời nói và cử chỉ, nhắc nhở bằng lời, gợi ý bằng tranh, khích lệ kịp thời, chia nhỏ thao tác chơi) trong suốt quá trình chơi.
  • Nhóm biện pháp đánh giá, phối hợp:
    • Biện pháp 6: Đánh giá thường xuyên sự tiến bộ về KNGT của trẻ trong và sau mỗi buổi chơi đóng vai.
    • Biện pháp 7: Phối hợp chặt chẽ giữa GVMN và phụ huynh nhằm củng cố, mở rộng KNGT của trẻ thông qua các tình huống sinh hoạt và chơi đóng vai tại gia đình.

3. Kết quả thực nghiệm sư phạm

  • Tổ chức thực nghiệm: Thực hiện trên các trường hợp nghiên cứu sâu (trẻ Nguyễn Đ., Ph. L...) tại 2 trường mầm non hòa nhập TP Thanh Hóa qua 2 giai đoạn (STN lần 1 và STN lần 2).
  • Phân tích định lượng (xử lý qua SPSS 20.0):
    • Trước thực nghiệm (TTN): Điểm đánh giá KNGT của cả 3 trẻ đều ở mức thấp; trẻ gặp khó khăn khi nhập vai, hiếm khi duy trì ánh mắt quá 3 giây, nói ngọng hoặc chỉ dùng hành vi kéo tay bạn/cô giáo.
    • Sau thực nghiệm lần 1 (STN 1): Trẻ bắt đầu hiểu quy tắc lượt lời trong nhóm chơi, biết chú ý nhìn vào mặt bạn khi nhận đồ chơi, phát âm rõ hơn các từ khóa của vai chơi ("bác sĩ", "uống thuốc", "mua rau").
    • Sau thực nghiệm lần 2 (STN 2): Điểm trung bình của 5 nhóm KNGT tăng trưởng rõ rệt có ý nghĩa thống kê; trẻ tự tin chủ động khởi xướng lời chào, biết đề nghị giúp đỡ, biết phối hợp luân phiên và biểu cảm nét mặt phù hợp với ngữ cảnh vai chơi (Bảng 2.13, 2.14, 2.15; Biểu đồ 2.7, 2.8, 2.9, 2.10, 2.11, 2.12, 2.13).
  • Phân tích định tính quá trình: Trẻ giảm hẳn các hành vi bốc đồng, bỏ chơi; mức độ gắn kết với nhóm bạn tăng lên; trẻ không khuyết tật trong lớp học được cách hỗ trợ, nhường nhịn và đối thoại tích cực với bạn KTTT.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và làm phong phú thêm lý luận giáo dục học mầm non về việc hình thành và phát triển KNGT cho trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi trong môi trường giáo dục hòa nhập.
  • Làm sáng tỏ bản chất, đặc điểm KNGT của trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi theo 5 nhóm kỹ năng thành phần (chú ý lắng nghe, luân phiên, hiểu ngôn ngữ, sử dụng ngôn ngữ nói, sử dụng yếu tố phi ngôn ngữ).
  • Xác lập cơ chế sư phạm của việc sử dụng trò chơi đóng vai như một phương tiện can thiệp và giáo dục KNGT chuyên biệt nhưng tích hợp tự nhiên trong hoạt động giáo dục hòa nhập ở trường mầm non.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bức tranh thực trạng toàn diện, có căn cứ số liệu khoa học về nhận thức của giáo viên, thực trạng KNGT của trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi và những rào cản thực tế tại các trường mầm non hòa nhập trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
  • Xây dựng hệ thống 7 biện pháp sư phạm thuộc 3 nhóm (Chuẩn bị; Tác động; Đánh giá, phối hợp) có cấu trúc logic, tính khả thi cao, được kiểm chứng thực nghiệm chặt chẽ bằng phần mềm SPSS 20.0.
  • Cung cấp bộ công cụ tiêu chí đánh giá KNGT của trẻ KTTT nhẹ qua hoạt động chơi đóng vai, hỗ trợ đắc lực cho GVMN trong việc lập kế hoạch giáo dục cá nhân (IEP).

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  1. Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo, các Sở GD&ĐT: Cần tăng cường biên soạn tài liệu hướng dẫn chuyên sâu về tổ chức hoạt động chơi cho trẻ khuyết tật học hòa nhập; tổ chức tập huấn, bồi dưỡng định kỳ kỹ năng giáo dục đặc biệt cho GVMN.
  2. Đối với các cơ sở đào tạo giáo viên: Bổ sung học phần hoặc chuyên đề chuyên sâu về "Giáo dục hòa nhập và can thiệp sớm cho trẻ khuyết tật lứa tuổi mầm non" trong chương trình đào tạo ngành Giáo dục Mầm non.
  3. Đối với trường mầm non và GVMN: Cần linh hoạt điều chỉnh không gian, thời gian, đồ dùng đồ chơi tại góc phân vai; kiên trì áp dụng các biện pháp hỗ trợ cá nhân hóa; tạo cơ chế động viên trẻ bình thường hỗ trợ trẻ khuyết tật.
  4. Đối với cha mẹ trẻ: Phối hợp chặt chẽ với giáo viên lớp học, thống nhất mục tiêu và phương pháp rèn luyện KNGT thông qua việc tương tác, trò chuyện và cùng chơi đóng vai tại gia đình.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Địa bàn khảo sát thực trạng và thực nghiệm chỉ giới hạn tại một số trường mầm non hòa nhập trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa (TP Thanh Hóa, Tĩnh Gia, Quảng Xương, Thạch Thành). Số lượng trường hợp can thiệp sâu trong thực nghiệm sư phạm còn tương đối nhỏ (03 trẻ điển hình tại 2 trường mầm non thuộc TP Thanh Hóa).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu trên các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau; nghiên cứu ứng dụng trò chơi đóng vai cho các dạng tật khác (rối loạn phổ tự kỷ, khuyết tật ngôn ngữ) hoặc theo dõi sự chuyển tiếp KNGT của trẻ KTTT từ mầm non lên lớp 1 tiểu học.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Giáo dục Mầm non và Giáo dục Đặc biệt: Cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh về KNGT và phương pháp luận thiết kế nghiên cứu trường hợp kết hợp thực nghiệm sư phạm có đối chứng.
  • Giáo viên mầm non đang dạy lớp hòa nhập: Tham khảo trực tiếp hệ thống 7 biện pháp sư phạm, cách lựa chọn chủ đề vai chơi, kỹ thuật làm mẫu, gợi ý lời thoại và tổ chức tình huống giao tiếp trong góc chơi đóng vai.
  • Cán bộ quản lý giáo dục mầm non: Sử dụng làm cơ sở khoa học để thiết kế các khóa tập huấn bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên dạy hòa nhập.
  • Cha mẹ có con KTTT nhẹ: Học hỏi cách thức giao tiếp, tạo môi trường tương tác và rèn luyện kỹ năng luân phiên, lắng nghe cho trẻ tại gia đình.

Câu hỏi thường gặp

1. Khung đánh giá KNGT của trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi trong luận án gồm những nhóm kỹ năng nào?

Khung đánh giá gồm 5 nhóm kỹ năng cơ bản: (1) Kĩ năng chú ý lắng nghe; (2) Kĩ năng luân phiên trong giao tiếp; (3) Kĩ năng hiểu ngôn ngữ trong giao tiếp; (4) Kĩ năng sử dụng ngôn ngữ nói; (5) Kĩ năng sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ (tiếp xúc mắt, nét mặt, cử chỉ).

2. Vì sao trò chơi đóng vai lại có ưu thế đặc biệt trong giáo dục KNGT cho trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi?

Trò chơi đóng vai là hoạt động chủ đạo của trẻ 5 - 6 tuổi. Hoạt động này tạo ra hoàn cảnh giao tiếp tự nhiên và các vai chơi mang tính xã hội, buộc trẻ phải lắng nghe bạn chơi, chờ đợi đến lượt, biểu đạt nhu cầu bằng lời nói và cử chỉ để thực hiện hành động chơi, giúp trẻ rèn luyện KNGT một cách thoải mái, không bị áp lực.

3. Thực trạng KNGT của 35 trẻ KTTT nhẹ khảo sát tại Thanh Hóa có đặc điểm gì nổi bật?

Kết quả khảo sát cho thấy cả 5 nhóm KNGT của trẻ đều ở mức thấp. Trong đó, kỹ năng chú ý lắng nghe và hiểu ngôn ngữ đạt điểm số tương đối cao hơn, còn kỹ năng luân phiên, kỹ năng sử dụng ngôn ngữ nói và kỹ năng sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ (nhất là giao tiếp mắt) xếp ở thứ bậc thấp nhất.

4. Hệ thống biện pháp của luận án gồm bao nhiêu nhóm và các biện pháp cốt lõi là gì?

Hệ thống gồm 7 biện pháp chia làm 3 nhóm: Nhóm biện pháp chuẩn bị (2 biện pháp: tạo môi trường, chuẩn bị tâm thế/kinh nghiệm); Nhóm biện pháp tác động cốt lõi (3 biện pháp: chọn/điều chỉnh chủ đề và vai chơi, tạo tình huống tương tác nhóm, áp dụng kỹ thuật hỗ trợ cá nhân); Nhóm biện pháp đánh giá và phối hợp (2 biện pháp: đánh giá thường xuyên, phối hợp với gia đình).

5. Kết quả thực nghiệm sư phạm trên các ca điển hình đã chứng minh điều gì?

Dữ liệu xử lý qua SPSS 20.0 cho thấy sau 2 lần đánh giá thực nghiệm (STN 1 và STN 2), điểm trung bình cả 5 nhóm KNGT của các trẻ đều tăng trưởng rõ rệt có ý nghĩa thống kê. Trẻ cải thiện rõ rệt khả năng giao tiếp mắt, biết chờ đến lượt trong hội thoại, sử dụng câu nói phù hợp với vai chơi và tương tác tích cực hơn với bạn bè trong lớp hòa nhập.


Kết luận

Luận án của tác giả Hồ Sỹ Hùng đã giải quyết một cách khoa học vấn đề giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ khuyết tật trí tuệ nhẹ 5 - 6 tuổi trong môi trường giáo dục hòa nhập mầm non. Thông qua việc phân tích toàn diện cơ sở lý luận và thực trạng tại tỉnh Thanh Hóa, tác giả đã đề xuất hệ thống 7 biện pháp sư phạm gắn liền với trò chơi đóng vai. Kết quả thực nghiệm được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0 đã khẳng định tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp, góp phần quan trọng vào sự phát triển của chuyên ngành Giáo dục học mầm non và giáo dục hòa nhập tại Việt Nam.