đặt vấn đề và tổ chức môi trường sư phạm cho trẻ tự tìm tòi, khám phá, phát hiện tri thức mới, trong đó cần hết sức coi trọng việc học hợp tác, làm việc theo nhóm để giải quyết những vấn đề phức tạp. 10 Đồng thời thuyết này cũng khẳng định học là một quá trình mang tính xã hội tích cực, trẻ học tốt nhất khi các em được đặt trong môi trường học tập có tính xã hội tích cực, ở đó có điều kiện và khả năng để kiến tạo sự hiểu biết của riêng mình. Nguyễn Hậu Kiêm [49], Phan Thị Ngọc Anh [4], Hàn Nguyệt Kim Chi [12] cho rằng cần đặt cá nhân trẻ vào trong những mối quan hệ xã hội phù hợp với những chuẩn mực đạo đức, và thực chất đây là giáo dục LNA qua trải nghiệm. Còn nếu mỗi cá nhân tham gia vào các công việc lệch chuẩn thì sẽ dẫn đến sự sai lệch nhiều hay ít với các chuẩn mực đạo đức.
Các nhà giáo dục đã đề xuất các phương pháp giáo dục LNA rất đa dạng, dưới nhiều góc độ khác nhau.Comenxki quan tâm đến phương pháp nêu gương cho học sinh noi theo, đặc biệt là sự gương mẫu của thầy cô. Nhiều tác giả nghiên cứu về giáo dục LNA qua trò chơi của trẻ em như K.v…Họ đã khẳng định vai trò to lớn của trò chơi đối với sự hình thành nhân cách, LNA của trẻ em lứa tuổi mẫu giáo thông qua các mối quan hệ trong quá trình chơi. Một số tác giả khác như Đ. khẳng định trò chơi là hình thức hoạt động, là con đường chủ yếu để hình thành hành vi xã hội, thái độ của các em đối với cuộc sống và đối với nhau.
Qua trò chơi, trẻ sẽ tích lũy được kinh nghiệm về LNA, về các mối quan hệ với bạn và mọi người xung quanh, từ đó giúp trẻ dễ dàng bước vào cuộc sống và hình thành LNA một cách bền vững.Nadetzuna [43] đề cập đến phương pháp tạo tình huống trong giáo dục đạo đức trẻ. Những tác giả này cho rằng chỉ có những tấm gương điển hình chưa đủ để cho trẻ lĩnh hội những chuẩn mực đạo đức mà nhà giáo dục cần phải xây dựng những tình huống “gây cấn”, “xung đột” để trẻ cần thiết phải nhận thức được mối quan hệ và lựa chọn phương tiện để xử lí vấn đề. Nhiệm vụ của nhà giáo dục là biết điều chỉnh các mối quan hệ của trẻ cho dù là “quan hệ thực” hay “quan hệ chơi” và giúp trẻ tự 11 điều chỉnh hành vi của mình theo những chuẩn mực đạo đức xã hội, đó là đoàn kết, thân ái, nhường nhịn lẫn nhau, quan tâm và giúp đỡ người khác.Crupskaia [83] rất chú trọng đến việc để cho trẻ làm quen với những hiện tượng hiện thực. Bà đã nhấn mạnh đến sự cần thiết phải để cho trẻ làm quen với hiện thực xung quanh dưới hình thức dễ hiểu với trẻ nhỏ, và bằng những phương pháp gợi lên những tình cảm và những thái độ của trẻ đối với các hiện tượng đó.
Điều đó có thể đóng một vai trò tích cực trong sự phát triển đạo đức của trẻ em. Nhicolova [43], Ngô Công Hoàn [30] đặc biệt quan tâm đến giáo dục xúc cảm, tình cảm trong quá trình hình thành hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ mầm non và đã đưa ra phương pháp giáo dục xúc cảm trong tình huống. Điều quan trọng ở đây là nhà giáo dục phải biết đặt mình vào vị trí của trẻ để từ đó phân tích phản ứng của trẻ (nghĩa là phân tích tình cảm, ý nghĩa, hành vi có thể xảy ra) trong mỗi tình huống cụ thể để tìm biện pháp giáo dục phù hợp. Lã Thị Bắc Lý [50], Hà Nguyễn Kim Giang [25], …cho rằng giáo dục LNA qua tác phẩm văn học là một con đường giáo dục hiệu quả.
Môi trường giáo dục và lực lượng giáo dục có ảnh hưởng đến việc giáo dục LNA cho trẻ như gia đình (K. Như vậy, những nghiên cứu trên cho thấy: - LNA được xem xét ở nhiều khía cạnh khác nhau, là tình yêu thương, là một phẩm chất đạo đức, là giá trị, là năng lực của cá nhân. - Đặc điểm của LNA nằm trong mối quan hệ giữa con người với con người, con người với sự vật xung quanh, yếu tố xúc cảm có ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức và hành vi của trẻ. LNA có cấu trúc ba mặt: nhận thức, tình cảm và những hành vi.
- Việc giáo dục LNA cho trẻ 5-6 tuổi có thể tiến hành dưới nhiều hình thức và sử dụng nhiều phương pháp khác nhau. Tuy nhiên, các nghiên cứu còn chưa chỉ ra rõ giáo dục LNA như là giáo dục giá trị, các cấu trúc cụ thể của LNA, các biểu hiện của LNA trong cuộc sống hàng ngày và cách thức lựa chọn và sử dụng các phương pháp và hình 12 thức giáo dục một cách phù hợp với đặc điểm của trẻ ở mỗi giai đoạn phát triển của trẻ để đạt đuợc hiệu quả của nó. Nghiên cứu về giáo dục qua trải nghiệm Giáo dục qua trải nghiệm được nhiều nhà khoa học L. Rogers [125], Kurt Lewin [116], John Dewey [16], Steiner [123], Kolb [114] đi sâu nghiên cứu.
Các nhà giáo dục coi giáo dục qua trải nghiệm như là chiến lược giáo dục trẻ một cách hiệu quả.Vugotsky [90] cho rằng giáo dục cần phải dựa vào kinh nghiệm sẵn có của trẻ và đón trước được sự phát triển của trẻ để tác động giáo dục phù hợp, có hiệu quả. Ông cũng cho rằng mỗi cá nhân do thực tiễn cuộc sống và tố chất di truyền đều có kinh nghiệm nền tảng khác nhau, nó quy định tương đối tiềm năng của cá nhân. Tiềm năng đó thể hiện ở chỗ hễ có sự hỗ trợ thì làm được, nghĩ được, quyết định được và giải quyết được vấn đề. Nếu không có hỗ trợ thì dù có biết là có vấn đề nhưng chưa đủ năng lực giải quyết.
Nhờ sự tương tác, kinh nghiệm thường trực ở cá nhân được chia sẻ, được thử thách, được cải thiện dẫn cá nhân đến trình độ phát triển mới cao hơn. Trình độ này trở thành kinh nghiệm nền tảng trong hiện tại, điều chỉnh và làm giàu kinh nghiệm trước kia. Học qua làm - học dựa trên kinh nghiệm đã có.Piaget [97] cho rằng sự phát triển của trẻ có được là thông qua hành động. Ông cho rằng khi trẻ tương tác với môi trường thì sẽ thu nhận được kiến thức mới, điều chỉnh và chính xác hóa những kiến thức đã có.Piaget đã đề cao vai trò của hành động, sự hiểu biết của trẻ được xây dựng từng bước thông qua sự tham gia tích cực của trẻ cũng như sự tương tác với các thành viên khác trong môi trường xung quanh trẻ.
Ông cho rằng trí thông minh được hình thành bởi kinh nghiệm và trí thông minh đó không phải là một đặc tính nội bộ bẩm sinh mà là một sản phẩm của sự tương tác giữa con người với môi trường sống của mình. Ông đã nhấn mạnh vai trò của kinh nghiệm và hoạt động để điều chỉnh hành vi, tuy nhiên không nhấn mạnh vai trò người khác khi hoạt động. Rogers [125] đề cao vai trò của học tập qua trải nghiệm. Rogers liệt kê những điều kiện của học tập qua trải nghiệm: cá nhân tham gia, được đánh giá bởi người học, và các hiệu ứng rộng rãi đến người học.
Kurt Lewin [116] khi nghiên cứu về học tập qua trải nghiệm đã cho rằng học tập tốt nhất là trong môi trường và đặc biệt là từ những kinh nghiệm cụ thể. Ông quan tâm nhiều đến mối quan hệ giữa lý thuyết và thực hành. “Thực tiễn luôn là lý thuyết tốt”. Ông cũng cho rằng gia đình và trường học có ảnh hưởng mạnh mẽ trong học tập qua trải nghiệm, kiến thức là cần thiết để thay đổi hành vi nhưng thay đổi thực sự đòi hỏi phải có một môi trường để rèn luyện, để trải nghiệm.
Ông khẳng định kinh nghiệm chủ quan của cá nhân là thành phần quan trọng của học tập qua trải nghiệm. Ông đã xác định các chu kì học tập nhưng là một quá trình liên tục của hành động và đánh giá hệ quả của hành động đó. Ông đã đưa ra mô hình học tập qua trải nghiệm, bao gồm giai đoạn đầu tiên người học suy nghĩ về tình huống, tiếp đến là lập kế hoạch giải quyết tình huống và tiến hành kế hoạch, cuối cùng là quan sát các kết quả đạt được. John Dewey [16] cho rằng trẻ em đến trường để làm việc và sống trong một cộng đồng, được tiếp nhận kinh nghiệm thực tiễn, hình thành và phát triển năng lực của mình để đóng góp cho xã hội.
Dewey nhấn mạnh vai trò của kinh nghiệm, ý nghĩa kinh nghiệm cá nhân và mối quan hệ giữa kinh nghiệm cá nhân với hoạt động dạy học. Ông lập luận rằng chúng ta phải hiểu trải nghiệm xảy ra như thế nào để thiết kế và tổ chức hoạt động giáo dục có thể mang lại lợi ích của các cá nhân trong xã hội hiện tại và tương lai. Như vậy, triết lí của John Dewey cho rằng mỗi trải nghiệm mới được xây dựng dựa trên kinh nghiệm trước đây và trở thành nền tảng tiếp theo tác động, ảnh hưởng đến trải nghiệm sắp tới trong tương lai. Đó là một chuỗi các trải nghiệm kế tiếp nhau, những hoạt động thực tiễn mà trẻ đã trải qua để hình thành và phát triển các phẩm chất đạo đức, các giá trị cũng như các kiến thức hoặc hành vi cần thiết cho đứa trẻ.
Vai trò của các nhà giáo dục là tổ chức trải nghiệm cho đứa trẻ và khai thác các trải nghiệm để thực hiện mục tiêu giáo dục đã đặt ra. Ông cho rằng, con người hòa nhập vào xã hội với tất cả những 14 hành vi của mình trong các mối quan hệ, chính vì thế giáo dục LNA đòi hỏi phải để cho học sinh cọ sát, ứng xử với xã hội.Vugotsky và John Dewey có những suy nghĩ khá giống nhau về vai trò kinh nghiệm cá nhân của đứa trẻ trong hoạt động lĩnh hội kinh nghiệm văn hóa xã hội của loài người nói chung, và giá trị đạo đức nói riêng. Hai ông đều xem con người là cái được hình thành dưới sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội trong những tình huống cụ thể. Deway đề ra khẩu hiệu “giáo dục bằng việc làm”, còn Vugotsky thì giáo dục bằng hoạt động.
Ông yêu cầu cần phải cho trẻ tham gia vào các hình thức hoạt động đa dạng của cuộc sống. Steiner [123] chú ý nhiều đến việc cung cấp một môi trường học tập thoải mái và sáng tạo, nơi trẻ em có thể tìm thấy niềm vui trong học tập và trải nghiệm sự phong phú của thời thơ ấu hơn là dạy trẻ em học sớm ở nhà.